Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HỘ TỊCH 1. Những khái niệm có liên quan đến đề tài 1. Khái niệm hộ tịch 1. Dưới góc độ ngôn ngữ học Thuật ngữ “Hộ tịch” là một từ ngoại lai được du nhập vào ngôn ngữ tiếng Việt, nên rất khó xác định được thời điểm xuất hiện và cũng có rất nhiều cách giải nghĩa khác nhau.
Các từ điển Hán- Việt của nhiều tác giả khác nhau nhưng đều có sự tương đồng và những khía cạnh đặc biệt trong cách giải nghĩa từ “hộ tịch”, như sau: - Hộ tịch: Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương [23, tr. - Hộ tịch: Sổ biên dân số có ghi rõ họ, quê quán và chức nghiệp của từng người [21, tr. - Hộ tịch: Sổ biên nhận một số địa phương hoặc cả toàn quốc, trong đó ghi rõ tên, họ, quê quán và chức nghiệp của từng người [35, tr. - Hộ tịch: Quyển sổ của Chính phủ biên chép số người, chức vụ và tịch quán của từng người [1, tr.9]; - Hộ tịch: Sổ sách nghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường [20, tr.
- Hộ tịch: Quyền cư trú, được chính quyền công nhận của một người tại nơi mình ở thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng một hộ, do chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần [14, tr. Như vậy nghĩa của từ “Hộ tịch” xét về góc độ ngôn ngữ còn tồn tại 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí có cuốn từ điển giải nghĩa còn thể hiển sự nhầm lẫn cơ bản giữa hai khái niệm „hộ tịch‟ và “hộ khẩu”. Điều này phản ánh một thực tế là sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm này trong nhận thức xã hội còn khá phổ biến. Dưới khía cạnh pháp lý - Quan niệm của một số học giả miền Nam Việt Nam thời kì trước năm 1975 Khái niệm „Hộ tịch” lần đầu tiên được định nghĩa trong các giáo trình giảng dạy của Đại học Luật khoa Sài Gòn dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa trong đó nổi lên quan điểm của một số tác giả sau: Tác giả Phan Văn Thiết có thể coi là người đầu tiên trình bày quan điểm “hộ tịch” trong cuốn tài liệu chuyên khoa xuất bản năm 1958 như sau: “Hộ tịch”- còn gọi là nhân thể bộ- là cách sinh hợp pháp của một công dân trong gia đình và xã hội.
Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan trọng của con người: sinh, giá thú, tử” [34]. Tác giả Trần Thúc Linh, tác giả cuốn Danh từ pháp luật lược giải vốn được đánh giá là một trong những từ điển chuyên ngành pháp lý đầu tiên, nhưng không đưa ra khái niệm về “hộ tịch” mà đưa ra khái niệm về “chứng thư hộ tịch”: Chứng thư hộ tịch là những giấy từ công chứng dùng để chứng minh một cách chính xác thân trạng của một người như ngày tháng năm sinh, tử, giá thú, họ tên, con trai, con gái, tư cách vợ chồng. tóm lại tình trạng xã hội của con người từ lúc sinh ra đến khi chết [24]. - Quan niệm về hộ tịch ở nước ta hiện nay Khái niệm “hộ tịch” cũng là một trường hợp đặc biệt trong hệ thống pháp lý tiếng Việt.
Bản thân khái niệm này hoàn toàn không dễ dàng định nghĩa một cách minh bạch, điều đó cũng có nghĩa là việc sử dụng nó không thuận tiện theo nguyên tắc sử dụng ngôn ngữ khi xây dựng văn bản quy phạm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp luật. Trên thực tế, đã từng có những cuộc thảo luận trong giới chuyên môn về việc thay thế khái niệm này bằng một khái niệm khác thông dụng hơn, dễ hiểu hơn. Tuy nhiên, do khái niệm này, trải qua một quá trình lịch sử đã dần trở thành ngôn ngữ phổ thông ăn sâu trong nhận thức của người dân nên giải pháp đi tìm khái niệm Việt hóa thay thế không được lựa chọn mà thay vào đó các nhà làm luật đã dung hòa bằng cách mà Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho phép, đó là sử dụng khái niệm này với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn bản. Theo đó, định nghĩa về “hộ tịch” từ Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch và cho đến Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính Phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch như sau: "Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra cho đến khi chết” [10, Điều 1].
Với mỗi vấn đề hộ tịch thì có giấy tờ hộ tịch về vấn đề đó. Giấy tờ hộ tịch là giấy tờ có giá trị chứng minh thực tế về thân trạng của mỗi công dân. Giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Đó là cơ sở pháp lý chứng minh các quyền và nghĩa vụ của công dân phát sinh từ sự kiện hộ tịch.
Trong đó giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Do vậy, tất cả các loại giấy tờ về hộ tịch đều phải thống nhất với giấy khai sinh của cá nhân người đó. Chính vì tính chất quan trọng của giấy tờ hộ tịch như vậy nên pháp luật có quy định rất chặt chẽ, cụ thể các nguyên tắc, thủ tục, trình tự đăng ký và cấp các loại giấy tờ về hộ tịch. Đi kèm với khái niệm về hộ tịch, Nghị định 158/2005/NĐ-CP còn nêu ra khái niệm “Đăng ký hộ tịch” như sau: Đăng ký hộ tịch là hành vi của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: Xác nhận các sự kiện: sinh, kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận, cha, mẹ con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc.
Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi [10, Điều 1]. Như vậy kết hợp giữa hai định nghĩa về hộ tịch và đăng ký hộ tịch mới có thể mang lại cách hiểu đầy đủ về khái niệm “hộ tịch”. Tuy nhiên, bên cạnh đó khi nói về định nghĩa hành vi đăng ký hộ tịch, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP đồng thời đã phân biệt thành hai nhóm hành vi với tính chất khác nhau rõ ràng: - Hành vi xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính; đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn; đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi. Đối với các sự kiện hộ tịch nói trên cơ quan đăng ký hộ tịch xác nhận bằng cách đăng ký vào sổ dành riêng cho từng loại việc, đồng thời cấp cho đương sự giấy chứng nhận về việc đó (như giấy khai sinh; giấy chứng nhận kết hôn.
Hành vi xác nhận của cơ quan đăng ký hộ tịch đã làm phát sinh hiệu lực pháp lý của các sự kiện hộ tịch được đăng ký. Chỉ sau khi đăng ký, các sự kiện đó mới làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của cá nhân. - Hành vi ghi chú vào sổ hộ tịch các việc về ly hôn; xác nhận cha, mẹ, con, thay đổi quốc tịch; mất năng lực hành vi dân sự; hạn chế năng lực hành vi dân sự; hủy hôn trái pháp luật; hạn chế quyền của cha, mẹ, đối với con chưa thành niên. Khác với hành vi xác nhận, đối với các loại việc hộ tịch này, cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ đơn thuần căn cứ vào quyết định bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (ví dụ: Bản án hoặc quyết định của Tòa án giải quyết việc ly hôn, Quyết định của Chủ tịch nước cho một số người thôi quốc tịch Việt Nam.) ghi chú việc đó vào Sổ hộ tịch.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, đăng ký hộ tịch là một hoạt động nằm trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch. Khái niệm quản lý hộ tịch Ở nước ta, việc đăng ký và quản lý hộ tịch có lịch sử lâu đời từ thời phong kiến nhà Trần và các triều đại phong kiến tiếp theo. Tuy nhiên, việc quản lý hộ tịch được thực hiện một cách đầy đủ, khoa học chỉ được bắt đầu từ thời kỳ Pháp thuộc. Điểm nổi bật trong hệ thống đăng ký và quản lý hộ tịch của thời kỳ Pháp thuộc là có một đội ngũ hương chức làm công tác hộ tịch, gọi là Hộ lại.
Hộ lại là người nắm giữ sổ sách hộ tịch và trực tiếp đăng ký các việc hộ tịch trong địa bàn cấp xã do mình phụ trách. Vì việc quản lý hộ tịch đòi hỏi phải nắm rất kỹ từng người dân, từng gia đình nên chức danh Hộ lại được bổ nhiệm suốt đời (trừ phi bị truất chức do vi phạm), thậm chí được khuyến khích “cha truyền con nối”. Điểm nổi bật thứ hai trong quản lý hộ tịch thời Pháp thuộc là có hệ thống sổ sách hộ tịch (gọi là “sổ bộ”) đầy đủ, khoa học và bảo đảm rất cẩn thận. Hiện nay, một số sổ sách hộ tịch thời Pháp thuộc vẫn còn được lưu giữ tại các thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch vẫn được Nhà nước ta tiếp tục duy trì và phát triển. Theo tinh thần của Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì các thể lệ đăng ký hộ tịch đã được quy định trong Bộ Dân luật giản yếu được áp dụng ở Nam Kỳ, Hoàng Việt hộ luật được áp dụng ở Trung kỳ và Dân luật Bắc Kỳ vẫn được tiếp tục áp dụng. Ngày 08/5/1956, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 764/TTg kèm theo Bản Điều lệ hộ tịch. Ngày 16/01/1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 04/CP, kèm theo Bản điều lệ nói trên, thì Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) là cơ quan được Hội đồng Chính phủ giao nhiệm vụ thống 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhất chỉ đạo, tổ chức quản lý hộ tịch, việc đăng ký hộ tịch do Uỷ ban hành chính xã, thị trấn, thị xã, khu phố phụ trách.