Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục KNGT cho học sinh ở các trường THCS. Chương 2: Cơ sở thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục KNGT cho học sinh THCS huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Chương 3: Biện pháp và khảo nghiệm các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNGT cho học sinh ở các trường THCS huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những công trình nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp và giáo dục kỹ năng giao tiếp Kỹ năng giao tiếp và giáo dục KNGT đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm. Ngay từ thời cổ đại, các nhà giáo dục, triết học đã quan tâm đến các vấn đề giao tiếp. Các hoạt động giáo dục lao động, giáo dục sức khoẻ, giáo dục hình thành năng lực thực hành, năng lực hợp tác đã được coi trọng.
Từ những hoạt động giáo dục, năng lực cá nhân được phát huy, thúc đẩy xã hội loài người phát triển. Khổng Tử (551-497 TCN) là một triết gia, một nhà giáo dục lỗi lạc của Trung Quốc thời cổ đại đã có tư tưởng gắn giáo dục với thực tiễn để tạo ta lớp người "trị quốc bình thiên hạ". Ông khẳng định "Đọc thuộc ba trăm thước kinh thư giỏi, giao cho việc đi sứ không có khả năng đối đáp, học kiểu như vậy chẳng có ích gì". Tư tưởng đó của Khổng Tử cho thấy người học ngoài việc học kiến thức chuyên môn, kiến thức văn hóa còn phải học cách giao tiếp để giao tiếp thành công và hiệu quả trong công việc chuyên môn và lao động nghề nghiệp.
Bởi giao tiếp là công cụ, phương tiện để con người trao đổi, chia sẻ thông tin và lĩnh hội thông tin trong quá trình lao động. Để nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻ, tác giả Linda Maget đã giới thiệu những KNGT xã hội, giúp trẻ giải quyết những trở ngại trong việc kết giao bạn bè. Với cách trình bày của mình, tác giả Linda Maget giúp các bậc cha mẹ và trẻ học được KNGT xã hội để luôn có bạn bè, trưởng thành trong học tập và cuộc sống, đó là mục tiêu của cuốn sách muốn đem lại. Cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, trước bối cảnh toàn cầu hóa, quốc tế hóa, các nước đều rất quan tâm đến vấn đề giáo dục con người trong xã hội mới.
Một trong bốn trụ cột của nền giáo dục toàn cầu trong thế kỷ XXI đã được UNESCO đề xuất là “học để cùng chung sống” và được coi là một trong những trụ cột quan trọng, then chốt của giáo dục hiện đại. Câu hỏi đặt ra là “Kỹ năng nào là cần thiết 6 cho mỗi con người để thành công trong công việc và cuộc sống?”, một trong những kỹ năng toàn cầu đỏi hỏi ở mỗi con người hoàn thiện là phải có “KNGT”. Chương trình giáo dục các giá trị sống của Unesco được coi là đối tác của các nhà giáo dục trên toàn cầu. Đó là chương trình ứng dụng những kỹ thuật, kỹ năng đơn giản nhưng mang tính chuyên môn cao bao gồm kỹ năng lắng nghe tích cực, những câu hỏi theo dạng mở - đóng và cách thảo luận tìm ra hướng giải quyết.
Chương trình này đã làm phong phú thêm vốn sống cho các bạn trẻ, trang bị những giá trị tích cực, các kỹ năng sống thiết thực, hữu ích trong hành trang bước vào đời. Tại Úc, Hội đồng Kinh doanh cùng với Phòng thương mại và công nghiệp có sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc đã xuất bản cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tương lai”. Cuốn sách đã trình bày các kỹ năng và kiến thức mà yêu cầu người sử dụng lao động bắt buộc phải có. Kỹ năng hành nghề là các kỹ năng cần thiết không chỉ để con người có được việc làm mà nó còn làm cho con người tiến bộ trong tổ chức nhờ phát huy tiềm năng cá nhân, đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức đó.
Các kỹ năng hành nghề do cuốn sách trình bày bao gồm có 8 kỹ năng, trong đó KNGT là một kỹ năng được đề cập đầu tiên. Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của KNGT trong xã hội. Bởi vậy, các nhà nghiên cứu trên thế giới luôn tìm tòi để hoàn thiện trong quá trình giáo dục và giáo dục KNGT. Trong lịch sử phát triển của dân tộc, của nhà nước Việt Nam, vấn đề về giao tiếp đã được coi trọng, nó được coi là nền tảng, là một trong những tiêu chuẩn, thước đo đánh giá nhân cách, đạo đức của con người, là biểu hiện của nét đẹp văn hoá “Tiền của phân giàu nghèo, giao tiếp phân tầng văn hóa”.
Vấn đề giao tiếp ở nước ta là những kỹ năng cơ bản để con người sống, chiến đấu, sản xuất, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Sau cách mạng tháng 8.1945, một số giao tiếp cũ đã bị phá vỡ cùng tập tục hà khắc, bởi nhiều nội dung mới trong giao tiếp được hình thành trên nền của xã hội mới. Và ngày nay, trong nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, với sự cạnh tranh, những thành tựu khoa học và thông tin bùng nổ thì vấn đề giao tiếp trong xã hội được coi là điều kiện tất yếu để khẳng định sự thành công trong cuộc sống hay nói cách khác, đó là sự “cạnh 7 tranh” để phát triển, là điều kiện tất yếu mở rộng mối quan hệ, khẳng định được thành công trong các lĩnh vực hoạt động của con người. Người Việt xưa ảnh hưởng nhiều văn hóa Trung Quốc qua tác động bởi sự đô hộ gần một nghìn năm của phương Bắc, tác động của Khổng giáo, họ có những biểu hiện giao tiếp hoàn toàn khác với cách giao tiếp của người Việt Nam hiện đại.
Trong hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội, con người luôn có nhu cầu giao tiếp với nhau và những hoạt động giao tiếp được mỗi người quan tâm, nó được lưu truyền, gìn giữ, dạy và học giữa mọi người trong xã hội. Từ trước đến nay, người Việt luôn hướng giao tiếp trong xã hội theo chủ nghĩa duy tình và nó được nâng lên thành một kiểu văn hoá giao tiếp của người việt nhằm đảm bảo sự đoàn kết, nhất trí trong cuộc sống. Không những thế, vấn đề giao tiếp còn là sự đúc kết kinh nghiệm trong cuộc sống và đấu tranh cho sự sinh tồn của mình. Ca dao, tục ngữ của Việt Nam cũng thể hiện và đề cập nhiều đến vấn đề giao tiếp giữa con người với con người trong xã hội, trong cuộc sống, trong công việc và trong tình cảm lứa đôi.
Do thể chế xã hội, ngôn ngữ giao tiếp của con người bị trói buộc trong khuôn khổ của lễ giáo phong kiến với những luật tục khắt khe nên hoạt động giao tiếp bị hạn chế. Ví dụ: Trong tình yêu nam nữ, trai gái không thể tự do đến với nhau được bởi quan niệm "nam nữ thụ thụ bất thân", "cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy". Họ không thể vượt qua giới hạn của hành vi giao tiếp cho phép, buộc phải thể hiện qua những lời bóng gió xa xôi, những câu ca dao, tục ngữ. đây chính là cách thức giao tiếp của tình yêu, được coi là nét đẹp văn hoá giao tiếp thời đại, là nền tảng để giáo dục, giúp con người hình thành nhân cách, sống có chuẩn mực đạo đức.
Nhiều nét đẹp văn hóa, giao tiếp của người việt trong suốt hàng nghìn năm, đến nay vẫn được giữ gìn và có giá trị trong cuộc sống. Nghiên cứu về đề tài "Một số đặc điểm giao tiếp của học sinh phổ thông dân tộc nội trú khu vực Đông Bắc Việt Nam" (2005) của tác giả Phùng Thị Hằng đã khai thác khái niệm giao tiếp dưới góc độ nhu cầu giao tiếp, nội dung giao tiếp, phạm vi giao tiếp, đối tượng và cách sử dụng phương tiện giao tiếp của học sinh phổ thông. Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài, nhu cầu giao tiếp, nội dung giao tiếp, phạm vi giao tiếp của học sinh dân tộc được thể hiện bằng kỹ năng hành vi như thế nào chưa được khai thác [25]. 8 Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học “Tự đánh giá về KNGT của thiếu niên trong giao tiếp với bạn” (2005) của Vũ Thị Lý nghiên cứu về thực trạng đánh giá về KNGT của thiếu niên trong giao tiếp với bạn.
Từ đó đề xuất một số biện pháp tác động nhằm nâng cao kỹ năng tự đánh giá của thiếu niên trong giao tiếp với bạn [37]. Những công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp Ở nước ta, việc nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục KNGT được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, đề cập đa chiều, trên nhiều khía cạnh khác nhau. Ngay từ cuối những năm thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, các nhà sư phạm trong nước như Hà Thế Ngữ, Hồ Ngọc Đại, Đặng Vũ Hoạt, Trần Kiều, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Văn Lê, Phạm Viết Vượng, Đặng Thành Hưng đã có những công trình nghiên cứu bước đầu đề cập đến quản lý hoạt động giáo dục KNGT thông qua các công trình nghiên cứu về tổ chức quá trình dạy học, nâng cao chất lượng dạy học hoăc các nghiên cứu vấn đề về đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy học theo hướng nâng cao tính hiện đại và gắn khoa học với đời sống thực tiễn sản xuất, vấn đề lấy học sinh làm trung. Đặc biệt, trong những năm gần đây, trước xu hướng đổi mới giáo dục của đấy nước nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục KNGT được nhiều tác giả quan tâm, tập trung nghiên cứu, tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, tiêu biểu là các công trình: Năm 2017, tác giả Vũ Diễm Phương có luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục về “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2, 3 trong các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội”.