Luận văn thạc sĩ quản lý chương trình đào tạo ngành quản trị kinh doanh ở trường đại học kinh tế quản trị kinh doanh thái nguyên compressed

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quản lý chương trình đào tạo ngành quản trị kinh doanh ở trường đại học kinh tế quản trị kinh doanh, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Trường đại học

Đại học Kinh tế Thái Nguyên

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

105
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo ngành Quản trị kinh doanh

Luận văn thạc sĩ này tập trung vào việc phân tích cơ sở lý luận về quản lý đào tạo trong lĩnh vực ngành Quản trị kinh doanh tại Đại học Kinh tế Thái Nguyên. Tác giả đã khảo sát các khái niệm cơ bản như chương trình đào tạo, quản lý chương trình đào tạo, và vai trò của các chủ thể trong quá trình này. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý cũng được đề cập, bao gồm sự phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp. Phần này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tiễn và xu hướng phát triển kinh tế - xã hội.

1.1. Khái niệm và vai trò của quản lý đào tạo

Quản lý đào tạo được định nghĩa là quá trình tổ chức, điều hành và kiểm soát các hoạt động đào tạo nhằm đạt được mục tiêu giáo dục. Trong bối cảnh ngành Quản trị kinh doanh, quản lý đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng đầu ra của sinh viên. Các yếu tố như chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, và sự phối hợp với doanh nghiệp được xem là những thành tố không thể thiếu. Tác giả cũng nhấn mạnh rằng, một chương trình đào tạo hiệu quả phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động và xu hướng phát triển kinh tế toàn cầu.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo

Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo bao gồm sự phát triển của công nghệ, nhu cầu của thị trường lao động, và sự tham gia của các bên liên quan như doanh nghiệp. Tác giả chỉ ra rằng, việc cập nhật chương trình đào tạo theo hướng hiện đại và thực tiễn là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng đào tạo. Ngoài ra, sự phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong việc xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo cũng được coi là một yếu tố quan trọng giúp sinh viên có được kiến thức và kỹ năng phù hợp với yêu cầu công việc.

II. Thực trạng quản lý đào tạo ngành Quản trị kinh doanh tại Đại học Kinh tế Thái Nguyên

Phần này phân tích thực trạng quản lý đào tạo ngành Quản trị kinh doanh tại Đại học Kinh tế Thái Nguyên. Tác giả đã tiến hành khảo sát và đánh giá các hoạt động quản lý, bao gồm việc xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo, và kiểm tra đánh giá. Kết quả cho thấy, mặc dù nhà trường đã có nhiều nỗ lực trong việc cải tiến chương trình đào tạo, vẫn còn tồn tại một số hạn chế như sự thiếu đồng bộ giữa lý thuyết và thực tiễn, cũng như sự phối hợp chưa chặt chẽ với doanh nghiệp.

2.1. Thực trạng xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo ngành Quản trị kinh doanh tại Đại học Kinh tế Thái Nguyên đã được cập nhật theo hướng hiện đại, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế. Tác giả chỉ ra rằng, nội dung chương trình còn dàn trải, thiếu tính thực tiễn, và chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thị trường lao động. Ngoài ra, việc áp dụng phương pháp giảng dạy mới còn chậm, dẫn đến hiệu quả đào tạo chưa cao. Điều này đòi hỏi nhà trường cần có những cải tiến mạnh mẽ hơn trong việc xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo.

2.2. Sự phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp

Sự phối hợp giữa Đại học Kinh tế Thái Nguyên và các doanh nghiệp trong việc quản lý và phát triển chương trình đào tạo còn hạn chế. Tác giả nhận định rằng, việc thiếu sự tham gia tích cực của doanh nghiệp trong quá trình đào tạo đã ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra của sinh viên. Để khắc phục tình trạng này, nhà trường cần tăng cường hợp tác với doanh nghiệp trong việc xây dựng chương trình, tổ chức thực tập, và đánh giá kết quả đào tạo.

III. Các biện pháp quản lý đào tạo ngành Quản trị kinh doanh

Dựa trên phân tích thực trạng, tác giả đề xuất một số biện pháp quản lý đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành Quản trị kinh doanh tại Đại học Kinh tế Thái Nguyên. Các biện pháp bao gồm việc cải tiến chương trình đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, và tăng cường sự phối hợp với doanh nghiệp. Những biện pháp này được đánh giá là có tính khả thi và có thể mang lại hiệu quả tích cực trong việc nâng cao chất lượng đào tạo.

3.1. Cải tiến chương trình đào tạo

Một trong những biện pháp quản lý đào tạo quan trọng là cải tiến chương trình đào tạo theo hướng hiện đại và thực tiễn. Tác giả đề xuất việc rà soát và cập nhật nội dung chương trình, đảm bảo tính đồng bộ giữa lý thuyết và thực hành. Ngoài ra, việc áp dụng phương pháp giảng dạy mới như học tập dựa trên dự án (Project-based learning) cũng được khuyến nghị để nâng cao hiệu quả đào tạo.

3.2. Tăng cường phối hợp với doanh nghiệp

Để nâng cao chất lượng đào tạo, tác giả đề xuất tăng cường sự phối hợp giữa Đại học Kinh tế Thái Nguyên và các doanh nghiệp. Cụ thể, nhà trường cần mời doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng chương trình, tổ chức các buổi hội thảo, và tạo điều kiện cho sinh viên thực tập tại doanh nghiệp. Sự phối hợp này không chỉ giúp sinh viên có được kiến thức thực tiễn mà còn giúp doanh nghiệp tiếp cận với nguồn nhân lực chất lượng cao.

02/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Phát triển chương trình đào tạo được nghiên cứu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau như: CIDO, POHE vv… Ở các nước phát triển như Đức, Anh, Mỹ, Úc, Hà Lan, Ôxtraylia, New Zealand vv…các trường đại học rất quan tâm đến vấn đề phát triển chương trình đào tạo. Phần lớn các công trình đến từ Ôxtraylia, chỉ riêng trong Australian Education Index đã có 350 (trong đó có 29 luận án tiến sĩ) bài viết về phát triển chương trình nhà trường. Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu đến từ Hoa kì, Canada, Vương quốc Anh, Israel.

Cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 ở New Zealand cũng xuất hiện một số chuyên khảo, báo cáo tổng kết đề tài khoa học, bài báo về phát triển chương trình nhà trường. (Ramsey et al., 1995; Ramsey, Hawk, Harold, Mariot, và Posskin.[37] Ở những nước nói tiếng Anh nêu trên trong những năm 70 và nhữn năm 80 phát triển chương trình được xem như đã đạt đỉnh cao nhất của nó. Đến giữa những năm 90 thuật ngữ này gần như biến mất trong các công trình nghiên cứu về giáo dục. Nguyên nhân thứ nhất có thể là thể là trong giai đoạn này nhiều nước bắt đầu các cuộc cải cách giáo dục một cách mạnh mẽ và rộng lớn.

Nguyên nhân thứ hai là do có sự dịch chuyển trong việc sử dụng thuật ngữ để mô tả các nguyên tắc và quá trình phát triển chương trình nhà trường. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN5 http://www.vn Ở New Zealand các công trình về phát triển chương trình nhà trường ít hơn, bao gồm một vài chuyên khảo, bài báo, báo cáo tổng kết đề tài khoa học… nhờ có 2 dự án lớn về phát triển chương trình nhà trường cuối những năm 80 đầu những năm 90 (Ramsay và cộng sự 1995. Ramsay, Hawk, Harold, Marriot và Posskit, 1993). [37] 10 năm gần đây số công trình viết về phát triển chương trình nhà trường tăng không đáng kể.

Từ năm 2000 đến nay có nhiều công trình nghiên cứu về chương trình, quản lý chương trình đào tạo được tiến hành nghiên cứu ở Hong Kong, Trung quốc, Nhật, Đài Loan. Các công trình này tập trung giải quyết một số vấn đề lí luận liên quan đế phát triển chương trình nhà trường, như định nghĩa chương trình nhà trường, các nguyên tắc, luận cứ, vai trò của nhà nước, nhà trường trong đó có nhấn mạnh vai trò của giáo viên trong phát triển chương trình nhà trường. Nhiều công trình đề cập tới vai trò của cộng đồng, nhà doanh nghiệp trong phát triển chương trình đào tạo trong đó có đề cập đến vai trò của các bên liên quan (steakholder), các chuyên gia trong phát triển chương trình nhà trường. Theo Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 có nêu rõ: “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ngoài nước” [30].

Để thực hiện chủ trương này có hiệu quả, trước tiên các trường đại học cần hoàn thiện chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ, sau đó tổ chức xây dựng đề cương học phần cho tất cả học phần trong chương trình đào tạo. Ở Việt Nam: Thời gian gần đây có khá nhiều công trình nghiên cứu về chương trình và quản lý chương trình đào tạo. Cụ thể ở trong nước, có thể nói Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN6 http://www.vn bất cứ tài liệu nào khi viết về giáo dục học, đi sâu vào lý luận dạy học đều đề cập tới chương trình, nội dung đào tạo, Các giáo trình kinh điển của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt - Giáo dục học [24] và các tác giả đi sau và gần đây có tài liệu của tác giả Nguyễn Hữu Châu - Những Vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học [11], đã viết khá rõ về các vấn đề cơ bản về chương trình và phát triển chương trình có tính chất xác định các nội dung cơ bản làm nền tảng cho khoa học về chương trình và phát triển chương trình. Trong nguồn tài liệu phải kể đến các tài liệu của TS Giáo dục Nguyễn Kim Dung - Xây dựng chương trình - Hướng dẫn thực hành.

Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, con người muốn tồn tại và phát triển phải có sự phối hợp, thống nhất với nhau trong cùng một nhóm, một tổ chức. Để tổ chức, điều khiển tạo nên sự phối hợp của nhóm người trong hoạt động theo yêu cầu nhất định thì cần phải có một người lãnh đạo, quản lý tổ chức đó. Như vậy, quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức, hoặc xã hội đã đặt ra.

Quản lý là một hoạt động đặc biệt bao trùm lên các mặt của đời sống xã hội, là nhân tố không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận thì có nhiều định nghĩa khác nhau. Quản lý là một hoạt động thiết yếu nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của các nhà quản lý nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt tới mục Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN7 http://www.vn đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất, với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học.

- Theo Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô, 1977: Quản lý là chức năng của hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động”.Mác, quản lý xã hội (QLXH) là chức năng được sinh ra từ tính xã hội hóa lao động. Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý (con người điều khiển con người). Người đã viết “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đếnmột sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.[10] Trong cuốn ‘‘Quản lý nhân lực”, Pau Hersey và Ken Blane Heard lại coi ‘‘Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức”.

[25] Hà Thế Ngữ, Đặng Ngữ Hoạt coi: "Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”. [24] Tác giả Mai Hữu Khuê lại cho rằng: "Hoạt động quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp các loại lao động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN8 http://www.vn trí óc, liên kết với bộ máy quản lý, hình thành một chỉnh thể thống nhất điều hòa phối hợp các khâu và các cấp quản lý, làm sao cho hoạt động nhịp nhàng, đi đến hiệu quả”. [21] Nhìn chung các khái niệm về quản lý đều nói đến một số đặc điểm sau đây của quản lý: - Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội. - Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng ổn định và phát triển đến mục tiêu đã định.

- Quản lý là sự tác động có ý thức, hợp quy luật giữa chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt đến các mục tiêu đã đề ra. - Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hương đích của chủ thể quản lý là đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường. Trên cơ sở tìm hiểu một số khái niệm về quản lý, chúng tôi quan niệm: Quản lý là hoạt động có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý nhằm điều khiển hoạt động của đối tượng, khách thể quản lý để đạt được mục tiêu quản lý đặt ra. Toàn bộ hoạt động quản lý đều được thực hiện thông qua các chức năng quản lý.

Nếu không xác định được các chức năng quản lý thì chủ thể quản lý không thể điều hành được hệ thống quản lý. Chương trình đào tạo Theo từ điển tiếng việt thông dụng, NXB giáo dục, chương trình được Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN9 http://www.vn giải nghĩa như sau: - Chương trình là: Các mục, các vấn đề, các nhiệm vụ đề ra và được sắp xếp theo trình tự thực hiện trong một thời gian”. - Chương trình là: “Nội dung kiến thức về một môn học ấn định cho từng lớp, từng cấp, từng năm”. - Chương trình như là một phần của khối kiến thức được chuyển hoá qua khâu thiết kế.

- Chương trình như là kết quả chắc chắn đạt được của người học vào cuối khoá học - sản phẩm đào tạo. - Chương trình là một quá trình (Tổ chức thực hiện). [35] Ở nước ta, Điều 6 luật giáo dục quy định: “Chương trình giáo dục theo hiện mục tiêu giáo dục: quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo".[23] Chương trình khung cho từng ngành đào tạo đối với trình độ Đại học, bao gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời lượng đào tạo, tỷ lệ thời gian giữa môn học, giữa lý thuyết và thực hành, thực tập.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ "Quản Lý Đào Tạo Ngành Quản Trị Kinh Doanh Tại Đại Học Kinh Tế Thái Nguyên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp và chiến lược quản lý đào tạo trong lĩnh vực quản trị kinh doanh. Tài liệu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức tổ chức và quản lý chương trình đào tạo, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn tại các cơ sở giáo dục khác.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về quản lý giáo dục, hãy tham khảo thêm tài liệu Luận văn quản lý hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội ở các trường tiểu học huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa, nơi bạn có thể tìm hiểu về quản lý dạy học ở cấp tiểu học. Bên cạnh đó, Quản lý giáo dục quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh ở trường tiểu học Đoàn Thị Điểm Hà Nội trong bối cảnh hội nhập quốc tế sẽ giúp bạn nắm bắt các phương pháp giáo dục văn hóa ứng xử trong môi trường học đường. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ quản lý đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông dựa theo lý thuyết quản lý sự thay đổi sẽ cung cấp cái nhìn về sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy, rất phù hợp cho những ai quan tâm đến cải cách giáo dục. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn mở rộng kiến thức và áp dụng vào thực tiễn quản lý giáo dục.