Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước theo Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ, công tác lưu trữ tại các cơ quan cấp Bộ ngày càng đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo thông tin phục vụ quản lý nhà nước. Bộ Kế hoạch và Đầu tư — cơ quan tham mưu tổng hợp về chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia — hàng năm phát sinh một khối lượng tài liệu khổng lồ, phản ánh toàn bộ các hoạt động điều hành kinh tế quốc dân.

Luận văn thạc sĩ "Quản lý công tác lưu trữ của Văn phòng Bộ Kế hoạch và Đầu tư" của tác giả Trần Tuấn Anh, được thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia năm 2023 dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Thanh Hương, tập trung đánh giá toàn diện thực trạng quản lý công tác lưu trữ tại Văn phòng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giai đoạn từ năm 2015 đến nay.

Kho lưu trữ của Bộ hiện bảo quản tổng cộng 10.887 hồ sơ được lưu trong 3.000 hộp, tương đương 374 mét giá tài liệu, trải dài qua hai phông lưu trữ chính: Phông Bộ Kế hoạch và Đầu tư (từ năm 1995) và Phông Cục Đầu tư nước ngoài (từ năm 1988). Khối lượng tài liệu này phản ánh phạm vi quản lý nhà nước rộng lớn của Bộ trên các lĩnh vực đầu tư công, ODA, đấu thầu, phát triển doanh nghiệp và thống kê quốc gia.

Đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao: về lý luận, hệ thống hóa các khái niệm và nội dung quản lý công tác lưu trữ cấp Bộ; về thực tiễn, cung cấp căn cứ để hoàn thiện công tác lưu trữ tại Văn phòng Bộ, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong giai đoạn chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng khung lý thuyết dựa trên hai trụ cột tư tưởng chính.

Thứ nhất, lý thuyết quản lý khoa học của Henri Fayol với 5 chức năng cốt lõi: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Khung này được vận dụng để phân tích các hoạt động quản lý công tác lưu trữ theo chu trình liên tục, từ ban hành văn bản chỉ đạo, tổ chức bộ máy nhân sự, hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ đến kiểm tra đánh giá kết quả.

Thứ hai, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin được áp dụng xuyên suốt. Cách tiếp cận này cho phép xem xét công tác lưu trữ trong mối liên hệ tác động qua lại với bối cảnh cải cách hành chính, đặt trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể để nhận diện sự vận động và phát triển của hoạt động này.

Các khái niệm lý thuyết nền tảng được làm rõ bao gồm: tài liệu lưu trữ (tài liệu có giá trị được lựa chọn để bảo quản phục vụ hoạt động thực tiễn và nghiên cứu khoa học); công tác lưu trữ (việc thu thập, chỉnh lý, xác định giá trị, bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu); quản lý công tác lưu trữ (bố trí nhân sự, ban hành văn bản chỉ đạo, kiểm tra vi phạm và quản lý kho tàng trang thiết bị); Văn phòng Bộ với vai trò "bộ nhớ" của lãnh đạo Bộ; và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước gắn với mục tiêu năng suất - chất lượng - kết quả.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai kết hợp đa phương pháp trong giai đoạn từ năm 2015 đến 2022, tập trung tại Văn phòng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội.

Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp được áp dụng để hệ thống hóa toàn bộ văn bản pháp luật về công tác lưu trữ từ cấp trung ương (Luật Lưu trữ 2011, Nghị định 30/2020/NĐ-CP, Thông tư 10/2022/TT-BNV...) đến các quy chế nội bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Phương pháp khảo sát, thống kê thực tế được triển khai trực tiếp tại Kho Lưu trữ Bộ, thu thập dữ liệu về toàn bộ 06 công chức của bộ phận lưu trữ thuộc Phòng Văn thư – Lưu trữ, khảo sát 10.887 hồ sơ đang được bảo quản và thực tế thu thập 72 mét giá tài liệu từ các đơn vị trực thuộc. Phương pháp chọn mẫu là khảo sát toàn bộ (census), phù hợp do quy mô bộ phận lưu trữ có giới hạn và cần đảm bảo tính toàn diện trong đánh giá.

Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng để đánh giá thực trạng, chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân. Phương pháp suy luận logic giúp dự báo hệ quả nếu công tác lưu trữ không được quản lý khoa học và đề xuất các giải pháp cải thiện. Phương pháp phân tích định tính được lựa chọn ưu tiên vì công tác lưu trữ là lĩnh vực đặc thù, phụ thuộc nhiều vào bối cảnh thể chế và đặc thù hoạt động của từng cơ quan.


Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện 1: Nhân lực lưu trữ thiếu đào tạo chuyên ngành

Bộ phận lưu trữ của Phòng Văn thư – Lưu trữ có 06 công chức (01 nam, 05 nữ), 100% có trình độ đại học trở lên. Tuy nhiên, chỉ 01/06 người (khoảng 17%) được đào tạo đúng chuyên ngành Văn thư – Lưu trữ ở trình độ sau đại học. Năm công chức còn lại được đào tạo ở các chuyên ngành khác, được luân chuyển về làm công tác lưu trữ và bồi dưỡng qua các lớp tập huấn hàng năm. Đây là hạn chế đáng kể, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phân loại, chỉnh lý và xác định giá trị tài liệu.

Phát hiện 2: Khối lượng tài liệu lớn, tình trạng vật lý không đồng đều

Kho lưu trữ đang bảo quản 10.887 hồ sơ trong 3.000 hộp tương đương 374 mét giá, chưa kể 391 mét giá tập lưu công văn đi từ năm 1995 đến nay. Tổng cộng trên 765 mét giá tài liệu đang cần quản lý. Đáng chú ý, nhiều tài liệu hành chính từ trước năm 2000 bị mờ chữ, khó đọc do được đánh máy chữ trên giấy và mực có độ bền thấp. Tài liệu từ năm 2000 trở đi trong tình trạng tốt hơn nhờ sử dụng máy vi tính và vật liệu in hiện đại. Dữ liệu này có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột so sánh khối lượng hai phông và bảng phân loại tình trạng vật lý theo từng giai đoạn thời gian.

Phát hiện 3: Hệ thống văn bản quản lý được ban hành nhưng chưa đồng bộ

Trong năm 2019, Văn phòng Bộ đã tham mưu ban hành 02 quyết định quan trọng: Quyết định số 1671/QĐ-BKHĐT về Quy chế khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ và Quyết định số 1259/QĐ-BKHĐT về thời hạn bảo quản hồ sơ, tài liệu. Năm 2020, Quy chế công tác văn thư, lưu trữ được ban hành tiếp theo Nghị định 30/2020/NĐ-CP. Tuy nhiên, một số văn bản ban hành chưa được cập nhật kịp thời sau khi các văn bản pháp luật cấp trên thay đổi.

Phát hiện 4: Ứng dụng công nghệ còn hạn chế, thu thập tài liệu chưa đạt kế hoạch

Hệ thống lưu trữ điện tử đã được triển khai nhưng việc cập nhật và khai thác chưa đồng đều giữa các đơn vị. Trong một năm nghiên cứu, Văn phòng Bộ chỉ thu thập được 72 mét giá tài liệu từ các đơn vị thuộc Bộ, trong đó Phòng Tài vụ đóng góp nhiều nhất với 35 mét (chiếm gần 49%). Tỷ lệ nộp lưu không đồng đều giữa các đơn vị cho thấy nhận thức và trách nhiệm thực hiện còn khác nhau đáng kể.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nhân lực lưu trữ thiếu chuyên môn đúng ngành phản ánh tình trạng phổ biến tại nhiều cơ quan cấp Bộ ở Việt Nam — nơi vị trí lưu trữ thường được xem là "kiêm nhiệm" thay vì chuyên trách. So với yêu cầu của Thông tư 13/2014/TT-BNV về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành lưu trữ, tỷ lệ 17% công chức được đào tạo đúng ngành là chưa đáp ứng. Điều này tương đồng với nhận định của các nghiên cứu trong ngành rằng "tuy công việc có âm thầm nhưng giá trị công việc của những người làm công tác lưu trữ không hề nhỏ đối với sự phát triển của dân tộc."

Khối lượng tài liệu lớn (hơn 765 mét giá) đặt ra bài toán nghiêm trọng về năng lực bảo quản và số hóa, đặc biệt trong bối cảnh Quyết định số 458/QĐ-TTg năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu lưu trữ tài liệu điện tử giai đoạn 2020-2025. Tình trạng vật lý xuống cấp của tài liệu thời kỳ trước năm 2000 đòi hỏi phải ưu tiên số hóa và phục chế ngay để tránh mất mát thông tin không thể khôi phục.


Đề xuất và khuyến nghị

Trên cơ sở phân tích thực trạng, luận văn đề xuất 06 nhóm giải pháp có lộ trình và chủ thể thực hiện cụ thể:

1. Tăng cường chỉ đạo lãnh đạo — Triển khai trong 6 tháng đầu năm 2024

Lãnh đạo Văn phòng Bộ cần đưa công tác lưu trữ vào chương trình công tác hàng tháng, quý, với mục tiêu 100% cuộc họp định kỳ có đánh giá tiến độ thực hiện nhiệm vụ lưu trữ. Chánh Văn phòng cần ban hành thông báo kết luận rõ ràng sau mỗi cuộc kiểm tra, giao trách nhiệm cụ thể đến từng phòng ban.

2. Hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý — Mục tiêu rà soát toàn bộ trong năm 2024

Phòng Văn thư – Lưu trữ tham mưu cập nhật và ban hành mới các quy chế, quy định nội bộ phù hợp với Thông tư 10/2022/TT-BNV và các văn bản mới nhất. Xây dựng Danh mục hồ sơ chuẩn hóa cho tất cả 19 đơn vị trực thuộc Bộ, đảm bảo thống nhất về phân loại và thời hạn bảo quản.

3. Đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn — Phấn đấu đạt 50% nhân sự đúng ngành trong 3 năm

Văn phòng Bộ cần lập kế hoạch cử ít nhất 02 công chức tham gia các khóa đào tạo chính quy chuyên ngành Văn thư – Lưu trữ tại các cơ sở đào tạo có uy tín. Đồng thời, tổ chức tối thiểu 02 buổi tập huấn nội bộ mỗi năm để phổ biến văn bản mới và cập nhật kỹ năng nghiệp vụ cho toàn bộ công chức thực hiện công tác lưu trữ tại các đơn vị.

4. Nâng cao hiệu quả thực hiện nghiệp vụ — Áp dụng ngay từ năm 2024

Phòng Văn thư – Lưu trữ xây dựng quy trình chuẩn (SOP) cho từng khâu nghiệp vụ: thu thập, phân loại, chỉnh lý, xác định giá trị và bảo quản. Đặt mục tiêu thu thập tài liệu đến hạn đạt tỷ lệ 95% trở lên mỗi năm, thay thế phương thức chờ đơn vị nộp sang chủ động lập kế hoạch và đôn đốc định kỳ theo từng quý.

5. Tăng cường kiểm tra, khen thưởng — Chu kỳ kiểm tra định kỳ mỗi 6 tháng

Văn phòng Bộ thiết lập hệ thống kiểm tra định kỳ 02 lần/năm đối với công tác lưu trữ của tất cả các đơn vị thuộc Bộ, gắn kết quả thực hiện với đánh giá thi đua cuối năm. Các đơn vị thực hiện tốt được biểu dương, ghi nhận chính thức; đơn vị chưa đạt yêu cầu được nhắc nhở và hỗ trợ khắc phục trong kỳ tiếp theo.

6. Đầu tư cơ sở vật chất và hạ tầng số — Lộ trình 2024-2026

Bố trí kinh phí để số hóa ưu tiên khối tài liệu từ năm 1988 đến 2000 đang có nguy cơ xuống cấp (ước tính trên 100 mét giá thuộc Phông Cục Đầu tư nước ngoài). Nâng cấp Hệ thống lưu trữ điện tử, đảm bảo tương thích với các yêu cầu kỹ thuật theo Thông tư 02/2019/TT-BNV và lộ trình của Đề án 458/QĐ-TTg. Trang bị bổ sung thiết bị bảo quản, phòng chống cháy, mối mọt cho kho lưu trữ hiện hành.


Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Lãnh đạo và công chức Văn phòng các Bộ, cơ quan ngang Bộ

Đây là nhóm đối tượng trực tiếp nhất. Luận văn cung cấp bức tranh thực tiễn chi tiết về tổ chức bộ máy, quy trình nghiệp vụ và hệ thống văn bản quản lý công tác lưu trữ tại một cơ quan Bộ lớn. Lãnh đạo các Văn phòng Bộ có thể tham khảo để đối chiếu với thực trạng của đơn vị mình, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và điều chỉnh chính sách quản lý phù hợp. Đặc biệt hữu ích cho Trưởng phòng Văn thư – Lưu trữ trong việc xây dựng kế hoạch năm và đề xuất cải tiến.

Nhóm 2: Cán bộ, chuyên viên làm công tác lưu trữ tại các cơ quan nhà nước

Luận văn cung cấp hệ thống văn bản pháp lý đầy đủ và cập nhật — từ Luật Lưu trữ 2011 đến Thông tư 10/2022/TT-BNV — cùng hướng dẫn áp dụng thực tế. Công chức lưu trữ có thể sử dụng như tài liệu tra cứu nhanh về quy trình thu thập, phân loại và bảo quản tài liệu theo phương án "Cơ cấu tổ chức - Thời gian."

Nhóm 3: Học viên, sinh viên chuyên ngành Quản lý công và Văn thư - Lưu trữ

Luận văn là mẫu nghiên cứu thực tiễn tốt cho các học viên cao học chuyên ngành Quản lý công (mã số 8 34 04 03). Kết cấu 3 chương rõ ràng (lý thuyết – thực trạng – giải pháp) cùng hệ thống số liệu thực tế từ khảo sát tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư là nguồn tham khảo giá trị cho các đề tài nghiên cứu về quản lý hành chính nhà nước.

Nhóm 4: Nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách về cải cách hành chính

Trong bối cảnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030, luận văn cung cấp dữ liệu và phân tích về một lĩnh vực còn ít được nghiên cứu chuyên sâu ở cấp Bộ. Các chuyên gia hoạch định chính sách có thể tham khảo các đề xuất giải pháp để xây dựng khung pháp lý hoàn thiện hơn cho công tác lưu trữ điện tử giai đoạn chuyển đổi số.


Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao công tác lưu trữ lại quan trọng với Bộ Kế hoạch và Đầu tư?

Bộ Kế hoạch và Đầu tư tham mưu tổng hợp về quy hoạch, đầu tư công, ODA và phát triển kinh tế - xã hội toàn quốc. Mỗi quyết định quản lý của Bộ đều cần có căn cứ pháp lý và số liệu tin cậy. Kho lưu trữ với hơn 10.887 hồ sơ chứa đựng toàn bộ quá trình hình thành chính sách, là bằng chứng pháp lý không thể thay thế và nguồn thông tin nền tảng cho công tác thanh tra, kiểm tra, nghiên cứu khoa học.

2. Văn phòng Bộ gặp những khó khăn gì trong quản lý công tác lưu trữ hiện nay?

Thực tế tại Văn phòng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy ba khó khăn chính: chỉ 01/06 công chức lưu trữ được đào tạo đúng chuyên ngành (17%), khối lượng tài liệu rất lớn (hơn 765 mét giá) với nhiều tài liệu trước năm 2000 bị mờ chữ cần phục chế, và việc thu thập tài liệu từ các đơn vị chưa đồng đều — một số đơn vị gần như không nộp lưu trong năm khảo sát.

3. Hệ thống pháp luật về lưu trữ tại Việt Nam hiện nay bao gồm những gì?

Khung pháp lý về lưu trữ được xây dựng theo hệ thống tầng lớp. Cao nhất là Luật Lưu trữ 2011 (có hiệu lực từ 01/7/2013). Dưới đó là các Nghị định hướng dẫn thi hành (Nghị định 01/2013/NĐ-CP, Nghị định 30/2020/NĐ-CP). Tiếp theo là các Thông tư của Bộ Nội vụ, gần nhất là Thông tư 10/2022/TT-BNV quy định thời hạn bảo quản tài liệu. Ngoài ra có Chỉ thị 35/CT-TTg năm 2017 về lập hồ sơ và giao nộp tài liệu, cùng Quyết định 458/QĐ-TTg năm 2020 về lưu trữ điện tử giai đoạn 2020-2025.

4. Phương án phân loại tài liệu nào đang được Bộ Kế hoạch và Đầu tư áp dụng?

Kho lưu trữ Bộ đang sử dụng phương án "Cơ cấu tổ chức - Thời gian". Theo đó, tài liệu được chia thành 19 nhóm theo đơn vị thuộc Bộ (Văn phòng Bộ, Thanh tra Bộ, các Vụ...), sau đó trong mỗi nhóm lại chia nhỏ theo từng năm, tài liệu năm trước để trước năm sau. Phương án này phù hợp với cơ cấu tổ chức phức tạp của Bộ, giúp tra cứu theo đơn vị và thời gian một cách thuận tiện, đặc biệt khi cần xử lý các hồ sơ theo yêu cầu thanh tra hoặc kiểm toán.

5. Lưu trữ điện tử có thể thay thế hoàn toàn lưu trữ giấy không?

Theo định hướng của Quyết định 458/QĐ-TTg năm 2020, lưu trữ điện tử sẽ dần trở thành hình thức chính, song chưa thể thay thế hoàn toàn trong ngắn hạn. Lý do là nhiều tài liệu có giá trị pháp lý cao vẫn yêu cầu bản gốc, bản chính theo quy định của Luật Lưu trữ. Tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mô hình song song — lưu trữ điện tử kết hợp bảo quản tài liệu vật lý — đang được triển khai, trong đó ưu tiên số hóa tài liệu cũ và áp dụng lưu trữ điện tử ngay từ đầu đối với tài liệu mới phát sinh.


Kết luận

Nghiên cứu về quản lý công tác lưu trữ tại Văn phòng Bộ Kế hoạch và Đầu tư mang lại những đóng góp có giá trị cả về học thuật lẫn thực tiễn:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý công tác lưu trữ cấp Bộ, bao gồm hơn 15 văn bản pháp luật từ trung ương đến nội bộ Bộ
  • Cung cấp số liệu thực tế đầu tiên về kho lưu trữ Bộ Kế hoạch và Đầu tư: 10.887 hồ sơ, 374 mét giá, 06 công chức bộ phận lưu trữ với cơ cấu chuyên môn cụ thể
  • Chỉ ra 06 nhóm giải pháp có lộ trình rõ ràng, gắn trách nhiệm thực hiện với từng chủ thể cụ thể
  • Đặt nền tảng cho các nghiên cứu so sánh về quản lý công tác lưu trữ giữa các Bộ, ngành trong hệ thống hành chính nhà nước
  • Đóng góp thiết thực vào mục tiêu chuyển đổi số trong công tác lưu trữ theo Chương trình cải cách hành chính nhà nước 2021-2030

Các nhà quản lý tại các Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ có thể tham khảo kết quả nghiên cứu này ngay từ giai đoạn xây dựng kế hoạch công tác lưu trữ năm 2024-2025. Luận văn cũng đặt ra hướng nghiên cứu tiếp theo cần thiết: đánh giá hiệu quả triển khai lưu trữ điện tử theo Quyết định 458/QĐ-TTg tại các cơ quan Bộ trong giai đoạn 2020-2025.