Chương 1 KIỂU TRUYỆN THƠ NÔM TÔN GIÁO VÀ VĂN BẢN TRUYỆN QUAN ÂM THỊ KÍNH 1. Kiểu truyện thơ Nôm tôn giáo 1. Khái niệm truyện thơ Nôm tôn giáo Truyện thơ Nôm hiện nay tồn tại nhiều luồng ý kiến khác nhau về cách gọi tên và định danh loại hình - loại thể. Đa số cho rằng nó là một thể loại văn học, nhưng cũng có ý kiến cho rằng truyện thơ Nôm phải được nhìn như một loại hình.
Và như tên gọi, nó có sự pha trộn: vừa có yếu tố truyện, vừa có yếu tố thơ. Trong các công trình nghiên cứu từ trước đến nay, nó được gọi bằng nhiều tên khác nhau: tiểu thuyết quốc ngữ (Phạm Đình Hổ), tiểu thuyết bằng văn vần, hay luân lí tiểu thuyết (Dương Quảng Hàm), truyện ngâm (Hoàng Thiếu Sơn), truyện Nôm (Đặng Thanh Lê, Kiều Thu Hoạch), thể lục bát trường thiên (Phạm Thế Ngũ). Trong dân gian có người gọi là truyện thơ, có người gọi là truyện Nôm, có người lại gọi là văn Nôm. Đây là một hiện tượng có nhiều tên gọi khác nhau nhất trong văn học Việt Nam.
Tuy nhiên, thuật ngữ truyện thơ Nôm vẫn là tên gọi phù hợp nhất, diễn đạt trọn vẹn ý nghĩa nhất. Cũng có nhiều cách định nghĩa truyện thơ Nôm, nhưng cơ bản là thống nhất về bản chất thể loại. Phạm Thế Ngũ (1997) coi đó là loại truyện “thuật lại một truyện xảy ra kết hợp bởi ít nhiều tình tiết biến đổi li kì để đưa đến cuối cùng một cái giải kết”. Nguyễn Lộc (2004) nêu khái niệm: truyện Nôm là “một thể văn học viết dưới hình thức văn vần, có cốt truyện trong văn học cổ Việt Nam, phát triển mạnh mẽ nhất ở giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII và thế kỉ XIX”.
Từ điển thuật ngữ văn học cũng định nghĩa: truyện Nôm là “thể loại tự sự bằng thơ dài rất tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, do viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm nên được gọi là truyện Nôm” (Lê Bá Hán và cộng sự, 1997). Truyện thơ Nôm cùng với khúc ngâm, thơ Nôm Đường luật là những thể loại được viết bằng ngôn ngữ dân tộc (chữ Nôm). Truyện Nôm ra đời là một tất yếu và là một hiện tượng có tính lịch sử, tuân theo quy luật hình thành và phát triển 11 của thể loại văn học, có sinh có diệt. Các nhà nghiên cứu đã nhận định sơ bộ về sự ra đời của truyện thơ Nôm: đó là vào giai đoạn XVI - XVII và phát triển cực thịnh vào thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX.
Đây là thời kì khủng hoảng trầm trọng không thể cứu vãn của chế độ phong kiến Việt Nam, dẫn đến hệ quả tất yếu là sự đảo lộn trật tự xã hội. Cùng thời gian này, theo chân các thuyền buôn phương Tây, nền kinh tế hàng hóa bắt đầu manh nha và lối sống thị dân đã tác động mạnh mẽ đến ý thức hệ phong kiến. Từ đó, những tư tưởng dân chủ, tiến bộ, tinh thần đấu tranh chống lại lễ giáo khắt khe cổ hủ, đòi quyền sống, quyền tự do cho con người ngày càng phát triển. Chủ nghĩa nhân đạo và tiếng nói đánh thức bản ngã là những mảng màu lớn trong bức tranh văn học giai đoạn này.
Cùng với sự chấn hưng Phật giáo, văn hóa dân gian phát triển và đạt được những thành tựu rực rỡ. Truyện thơ Nôm là kết quả của sự kết hợp giữa văn học, văn hóa dân gian với văn chương bác học. Đây cũng là giai đoạn ngôn ngữ dân tộc và ngôn ngữ văn học Nôm phát triển đến đỉnh cao. Truyện Nôm ra đời vừa đáp ứng được nhu cầu cân bằng đời sống xã hội, vừa giúp giảm bớt áp lực văn học chữ Hán vốn quá quy phạm, xơ cứng.
Ở Việt Nam hiện có khoảng hơn 100 truyện thơ Nôm với nhiều cách phân loại khác nhau. Dựa vào nguồn gốc đề tài có ba loại: Loại lấy đề tài từ các truyện cổ dân gian, ví dụ: Trương Chi, Tấm Cám, Thạch Sanh…; Loại lấy đề tài, cốt truyện từ văn học Trung Quốc: Truyện Hoa Tiên, Nhị độ mai, Phan Trần…; Loại lấy đề tài, cốt truyện từ những sáng tác chữ Hán hoặc những sự tích có thật ở Việt Nam: Tống Trân-Cúc Hoa, Bích Câu kỳ ngộ… Dựa vào nội dung và hình thức, có hai loại: Truyện Nôm bình dân do các nho sĩ bình dân sáng tác như: Tống Trân- Cúc Hoa, Phạm Công-Cúc Hoa, Phạm Tải - Ngọc Hoa…; Truyện Nôm bác học do các nhà Nho thuộc tầng lớp trên sáng tác như: Phan Trần, Nhị độ mai… Dựa vào mối quan hệ với tác giả có: truyện Nôm hữu danh và truyện Nôm khuyết danh. Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Quyển 2) lại tiếp tục chia truyện thơ Nôm khuyết danh thành các loại sau: Truyện Nho giáo trung hiếu tiết nghĩa “chính tông”: như Nhị độ mai, Tống Trân, Thạch Sanh…; Truyện Nho giáo với nhân vật chính là nữ nhân: Nữ tú tài, Phương Hoa, Lý Công, Hoàng Trừu…; Truyện tình ái có màu sắc Lão hoặc Phật: Bích câu, Bạch Viên, Phan 12 Trần…; Truyện Phật giáo “chính tông”: Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Diệu Thiện, Mục Liên Địa Tạng, Mục Liên Thanh Đề…; Truyện ngụ ngôn luân lí: Hoa điểu tranh năng, Trê cóc, Trinh Thử… Nhìn chung vấn đề phân loại cũng như tên gọi của truyện thơ Nôm đến nay vẫn chưa thống nhất. Cách phân loại phổ biến hiện nay được nhiều người chấp nhận nhất là chia thành hai loại: truyện thơ Nôm bình dân và truyện thơ Nôm bác học.
Về truyện thơ Nôm tôn giáo, trước hết tôn giáo là: “1: Hình thái ý thức xã hội hình thành nhờ vào lòng tin và sùng bái thượng đế, thần linh (nghiên cứu về tôn giáo, vấn đề tôn giáo); 2: Các đạo nói riêng như đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Hồi,. Như vậy, có thể hiểu tôn giáo phản ánh hiện thực thông qua các khái niệm, ý niệm mang tính tưởng tượng, siêu hình. Gắn với mỗi tôn giáo là các hoạt động tín ngưỡng, địa điểm tâm linh. Các tôn giáo trên thế giới đều có điểm chung là đức tin vào sự tồn tại thực của một đấng siêu nhiên do chính họ tưởng tượng ra và tôn thờ tuyệt đối.
Đồng thời, mỗi tôn giáo đều có những hình thái thờ phụng, có đấng tối cao để tôn thờ, có lễ nghi đặc thù, có giáo lý, kinh sách, có quy tắc, có tín đồ riêng… Ở khắp các quốc gia trên thế giới, tôn giáo đều có ảnh hưởng lớn tới văn học nghệ thuật. Chính vì vậy nó hình thành cả một dòng văn học tôn giáo. Những tôn giáo thành dòng trong văn học Việt Nam là Thiên Chúa giáo, Phật giáo và Đạo giáo, trong đó đậm nét nhất là văn học Phật giáo. Từ trước đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về nhóm truyện thơ Nôm tôn giáo, và cũng chưa có một định nghĩa thực sự đầy đủ, khái quát cho khái niệm truyện thơ Nôm tôn giáo.
Để có được một định nghĩa đầy đủ, chính xác về truyện thơ Nôm tôn giáo không phải là chuyện ngày một ngày hai, mà còn phải dày công sưu tầm, nghiên cứu. Tuy vậy, bước đầu có thể hiểu như sau: Truyện thơ Nôm tôn giáo là những truyện thơ Nôm mà yếu tố tôn giáo đóng vai trò chủ đạo (xây dựng nhân vật tôn giáo (hình tượng tôn giáo), khai thác đề tài tôn giáo, kể tích truyện tôn giáo…). Truyện thường xoay quanh các câu chuyện tôn giáo, thuyết minh cho hệ thống triết lí của tôn giáo, thường được các giáo phái sử dụng với mục đích tuyên truyền cho giáo lí của mình. 13 Trong đề tài này, khái niệm Truyện thơ Nôm tôn giáo mà chúng tôi xem xét được giới hạn trong phạm vi là truyện thơ Nôm đề tài Phật giáo (Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ gọi nhóm truyện thơ Nôm này là “Truyện Phật giáo chính tông”, Nguyễn Văn Hoài lại gọi là “truyện thơ Nôm tôn giáo”).
Bởi vì chiếu theo tiêu chí của một tác phẩm văn học tôn giáo như trên thì một truyện thơ được xem là truyện thơ Nôm tôn giáo chỉ khi nó mang đề tài - chủ đề tôn giáo, chứa đựng tư tưởng tôn giáo, vừa phải xây dựng được nhân vật tôn giáo, hoặc cốt truyện tôn giáo. Nguyễn Văn Hoài (2015) trong bài Thi pháp truyện thơ Nôm tài tử giai nhân và một số tiểu loại truyện thơ Nôm khác: nhìn từ góc độ nhân vật, mô thức cốt truyện, ở phần phân loại truyện thơ Nôm, mục Truyện thơ Nôm tôn giáo, tác giả cũng kể tên một số truyện thơ Nôm Phật giáo là: Quan Âm Thị Kính, Quan Âm tống tử bản hạnh, Mục Liên Thanh Đề, Lưu Hương diễn nghĩa bảo quyển… chứ không xếp các truyện mang màu sắc Đạo giáo, Thiên Chúa giáo vào nhóm này. Ở Việt Nam, văn học Đạo giáo, Thiên Chúa giáo hay tôn giáo dân gian có thể nhiều ở các thể loại khác, nhưng truyện thơ Nôm thì chỉ có Phật giáo là đáng kể mà thôi. Do đó khái niệm truyện thơ Nôm tôn giáo trong đề tài này đồng nhất với truyện thơ Nôm về Phật giáo.
Từ “tôn giáo” ở đây có nội hàm là Phật giáo. Tiền đề xuất hiện truyện thơ Nôm tôn giáo, có thể xem xét trên hai phương diện. Thứ nhất, về tiền đề lịch sử - văn hóa: Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn nhất trên thế giới (cùng với đạo Thiên Chúa, đạo Hồi), và cũng là tôn giáo lớn, có lịch sử lâu đời nhất ở Việt Nam. Quê hương của Phật giáo ở Ấn Độ.
Đạo Phật du nhập vào Việt Nam từ đầu kỉ nguyên Tây lịch, theo chân của các thương nhân Ấn Độ. Vùng đất Luy Lâu (huyện Thuận Thành - Bắc Ninh ngày nay) trở thành trung tâm Phật giáo của Giao Chỉ, hình thành sớm hơn cả trung tâm Phật giáo Lạc Dương và Bành Thành (Trung Quốc). Giai đoạn đầu, đạo Phật được truyền bá vào Việt Nam bằng con đường tự nguyện và trực tiếp ảnh hưởng từ Ấn Độ chứ không phải bằng con đường cưỡng bức như Nho giáo. Nhà nghiên cứu Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận viết: Trong các chuyến đi xa hằng năm với nhiều tháng lênh đênh trên biển cả như thế, các thương gia Ấn cũng thờ cúng và cầu nguyện đức Phật 14 và các vị Bồ Tát hộ trì cho trời yên biển lặng và mọi sự yên lành.
Các thương thuyền này thường thờ đức Quán Thế Âm (Avalokitesvara) và đức Nhiên Đăng (Dipankara), nổi tiếng là những vị che chở cho thủy thủ được an lành ngoài biển khơi. Cũng trong mục đích cầu nguyện và cúng dường tam bảo, họ thỉnh theo thương thuyền một số vị tăng sĩ.