Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn; Tổng quan về địa bàn nghiên cứu. - Chương 2: Quá trình chuyển đổi sinh kế của người dân làng Triều Khúc từ năm 2000 đến 2012. - Chương 3: Tác động của quá trình chuyển đổi sinh kế đến đời sống của người dân làng Triều Khúc. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN; TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.
Một số khái niệm cơ bản - Khái niệm sinh kế Sinh kế (Livelihood) còn gọi là kế sinh nhai hay đơn giản là cái cách mà con người sử dụng những nguồn lực sẵn có của mình để đạt được mục tiêu của mình. Sinh kế bao gồm tất cả các khả năng, các nguồn lực và các hoạt động cần thiết cho một phương thức sống. Những ý tưởng về sinh kế được giới thiệu trong các nghiên cứu của Robert Chambers vào giữa những năm 80 và sau đó được Robert Chambers và Gordon Conway phát triển thêm vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Theo hai ông, “Sinh kế là bao gồm những năng lực, tài sản (nguồn lực vật chất và xã hội) và những hoạt động đáp ứng cho việc sống”.
Trong nghiên cứu này, các tác giả khẳng định vấn đề xuyên suốt trong quá trình của bất cứ lĩnh vực nào chính là phát triển bền vững “Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được hết tiềm năng con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ. Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như những thay đổi bất ngờ. Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai” (1992). Đây là định nghĩa sinh kế và sinh kế bền vững (Sustainable livelihood approach – SLA) được chấp nhận phổ biến rộng rãi nhất.
Theo Bùi Đình Toái (2004) thì “Sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp các nguồn lực và khả năng con người kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn. Hay nói cách khác sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó”. Sinh kế hộ gia đình dựa trên các nguồn vốn con người (dân cư, nguồn lao động), vốn xã hội (mạng lưới xã hội, các mối quan hệ xã hội), vốn thiên nhiên hay tài nguyên (rừng, đất canh tác, đất phi nông nghiệp, đa dạng sinh học…), vốn vật chất (nhà ở, nhà xưởng, công cụ sản xuất, phương tiện vận chuyển, cơ sở hạ tầng…), vốn tài chính (tiết kiệm, tín dụng, hàng hóa lưu chuyển…). Các nguồn lực 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com này có quan hệ mật thiết với nhau và có thể làm gia tăng khả năng tiếp cận các nguồn lực khác, chẳng hạn như nếu hộ có đất (có chứng nhận pháp lý về quyền sử dụng đất) có thể vay mượn, thế chấp, cầm cố để có nguồn vốn tài chính phục vụ cho mục tiêu kinh tế hay đời sống nào đó.
Chiến lược sinh kế (Livelihood strategies) là các kế hoạch làm việc dài hạn của cộng đồng để kiếm sống. Nó thể hiện sự đa dạng và kết hợp nhiều hoạt động và lựa chọn mà con người tiến hành nhằm đạt được mục tiêu sinh kế của mình. Chiến lược sinh kế hộ gia đình là sự kết hợp sử dụng các nguồn lực hộ gia đình (hay sử dụng các tài sản sẵn có của hộ gia đình) và cộng đồng nhằm đạt tới mục tiêu kinh tế hộ. Chiến lược sinh kế hộ gia đình có thể là sự định hướng mục tiêu sản xuất, kinh doanh hay cách thức đạt được mục tiêu như bằng sự tận dụng ưu thế của một hay vài loại nguồn lực sinh kế hay đầu vào sản xuất có lợi thế… Chuyển đổi sinh kế của người dân làng Triều Khúc, xã Tân Triều là khái niệm để chỉ sự thay đổi trong phương thức kiếm sống (mưu sinh) của họ dưới sự tác động của sự thay đổi về điều kiện tự nhiên, môi trường sống và nhiều nhân tố khác.
Kết quả sinh kế (Livelihood outcomes) là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng, nhờ các chiến lược sinh kế mang lại, cụ thể là thu nhập cao hơn, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn thực phẩm, và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên. - Khái niệm làng nghề Làng nghề là những làng mà tại đó hầu hết cư dân tập trung vào làm một nghề hoặc nhiều nghề thủ công, có khi chỉ là một công đoạn của nghề; nghề của họ làm thường có tính chuyên môn hóa cao, sản phầm mang đặc điểm riêng biệt và thu nhập của nghề chiếm tỷ lệ lớn nhất so với các hoạt động kinh tế khác; hoạt động nghề có ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội của làng. Làng nghề có thể có hoặc không có truyền thuyết về tổ nghề. Làng nghề truyền thống là làng nghề được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thụ sản phẩm.
Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn có ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc. Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN, ngày 18/12/2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định tiêu chí công nhận làng nghề như sau: có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt ba tiêu chí sau: Nghề đã xuất hiện tại địa phương trên 50 năm tính đến thời điểm được công nhận; Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. Căn cứ theo những điều khoản trên, từ ngày 30/12/2009, làng Triều Khúc được công nhận là Làng nghề truyền thống Hà Nội theo Quyết định số 6846/QĐ-UBND.
- Khái niệm Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa, Đô thị hóa Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ cuối thế kỷ thứ XVIII đến nay, trong lịch sử nhân loại đã diễn ra những cuộc cách mạng công nghiệp mà kết quả là tạo ra những loại hình công nghiệp hóa (CNH) khác nhau: CNH tư bản chủ nghĩa và CNH xã hội chủ nghĩa. Trong số những loại hình CNH này, xét về mặt lực lượng sản xuất, khoa học và công nghệ là giống nhau. Song chúng có sự khác nhau về mục đích, về phương thức tiến hành, về sự chi phối của quan hệ sản xuất thống trị. CNH diễn ra ở các nước khác nhau, vào những thời điểm lịch sử khác nhau, trong những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, do vậy nội dung khái niệm có sự khác nhau.
Đặt trong điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta hiện nay, Đảng ta nêu ra quan niệm về CNH, HĐH trong Nghị quyết Hội nghị TW 7 khóa VII, tháng 7/1994 như sau: CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quan niệm nêu trên cho thấy, quá trình CNH, HĐH ở nước ta phải kết hợp chặt chẽ hai nội dung CNH và HĐH trong cùng một quá trình phát triển. Quá trình ấy, không chỉ đơn thuần phát triển công nghiệp mà còn phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, từng lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Quá trình ấy không chỉ tuần tự trải qua các bước cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá, mà còn sử dụng kết hợp kỹ thuật thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu có thể và mang tính quyết định.
Đặc điểm CNH, HĐH ở Việt Nam được khái quát như sau: - CNH, HĐH theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. - CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức. - CNH, HĐH trong điều kiện cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. - CNH, HĐH trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế và Việt Nam tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Đô thị hóa (Urbanization) Đô thị hóa (ĐTH) là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống. Theo Bách khoa toàn thư, ĐTH là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực gọi là mức độ ĐTH. Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian nên còn gọi là tốc độ ĐTH. ĐTH còn là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống.
Hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, ĐTH là một quá trình tập trung dân cư đô thị. Đồng thời đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sản xuất phi nông nghiệp tăng. Bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại, không gian đô thị mở rộng. Trong đó, dân cư đô thị là một điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mức độ ĐTH diễn ra ở các nước khác nhau tùy thuộc vào điều kiện lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội từng nước.