Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TẠI CƠ SỞ 1. Bản chất của trợ giúp pháp lý Trên thế giới, hoạt động trợ giúp pháp lý có lịch sử ra đời cách đây khoảng 500 năm, bắt đầu xuất hiện ở Anh (thế kỷ XV), Đức và Hà Lan vào những thập niên giữa thế kỷ XIX, sau đó đến Pháp, Mỹ và xuất hiện muộn hơn vào đầu thế kỷ XX ở Úc và một số nước trong khu vực như: Singapore, Malaysia, Campuchia, Trung Quốc… Trong những thập kỷ gần đây, nhất là sau chiến tranh thế giới lần II, trợ giúp pháp lý phát triển mạnh do các Nhà nước bắt tay vào xây dựng lại đất nước trong hoàn cảnh hoà bình, môi trường phát triển tương đối thuận lợi, có điều kiện quan tâm chăm lo hơn đến các vấn đề xã hội và bảo đảm công bằng xã hội. Ở Việt Nam, ngay từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1945) đã có những hoạt động mà xét về bản chất là việc giúp đỡ pháp lý miễn phí dưới tên gọi “tư pháp bảo trợ” gắn với những quy định về quyền bào chữa và bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo: “Trong việc đại hình, nếu trước Tòa án nhân dân phúc thẩm khu hoặc thành phố một bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án sẽ cử một luật sư bào chữa cho hắn” (Điều 44 Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946); “các luật sư có quyền biện hộ trước tất cả các Toà án, trừ Tòa án sơ cấp” (Điều 46 Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946); “nguyên cáo hoặc bị cáo trong một việc hộ có quyền xin tư pháp hỗ trợ" (Sắc lệnh số 113/SL ngày 28/6/1946). Các hoạt động mang tính chất trợ giúp pháp lý xuất phát từ bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của dân, do dân và vì dân theo tư tưởng của Hồ Chí Minh nhằm bảo vệ quyền công dân, quyền con người, đặc biệt cho nhóm người yếu thế trong xã hội.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Người, quyền con người phải được bảo đảm bằng Hiến pháp và phải là quyền Hiến định. Ngay trong lời nói đầu của bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử dân tộc năm 1946 do Người làm Trưởng Ban soạn thảo đã xác định “bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân”, đồng thời, quy định về quyền bào chữa của bị can, bị cáo: "Người bị cáo được quyền bào chữa lấy hoặc mượn luật sư” (Điều 67). Bên cạnh đó, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội thực hiện hoạt động giải thích, hướng dẫn pháp luật, tham gia đại diện, bào chữa cho nhân dân có tính bao cấp (các chi phí do Nhà nước chi trả) mà xét về bản chất, cũng là hoạt động trợ giúp pháp lý. Các Hiến pháp tiếp theo đều khẳng định quyền quyền bào chữa của bị can, bị cáo: Điều 101 Hiến pháp năm 1959: “Quyền bào chữa của bị cáo được đảm bảo”; Điều 133 Hiến pháp năm 1980: “Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định.
Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý.” Điều 132 Hiến pháp năm 1992: "Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa".
Tuy nhiên, chưa có tài liệu nói đến thuật ngữ "trợ giúp pháp lý". Trong các Nghị quyết của Đảng hay văn bản pháp luật của Nhà nước thường dùng cụm từ “tư vấn pháp luật” hay “dịch vụ pháp lý” mà chưa có khái niệm, định nghĩa về trợ giúp pháp lý một cách cụ thể, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII chủ trương “tạo điều kiện cho người nghèo được hưởng dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí”; Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 quy định luật sư có nhiệm vụ tham gia tố tụng và tư vấn pháp luật; Thông tư số 1119/QLTPPL năm 1987 và Công văn số 870 năm 1989 của Bộ Tư pháp chỉ nói về “dịch vụ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp lý” và cho phép Hội luật gia và các Đoàn luật sư được mở Văn phòng tư vấn pháp luật. Thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” được sử dụng phổ biến từ giữa thế kỷ 20 xuất phát từ tiếng Anh là “legal aid”. Theo Từ điển Anh - Việt của tác giả Lê Khả Kế, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1997 thì “legal aid” có nghĩa là “trợ cấp pháp lý”.
Trong Từ điển pháp luật Anh - Việt, Nhà xuất bản Thế giới do Nguyễn Thành Minh chủ biên, 1998 thì “legal aid” trong cụm từ “legal aid schem” có nghĩa là “bảo trợ tư pháp”. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt - Nguyễn Như Ý, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, 1999 thì “trợ giúp” là “sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem cho ai cái gì đang lúc khó khăn, đang cần đến”. Từ điển Từ và ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh giải thích: trợ giúp là góp sức hoặc góp tiền cho một người hoặc vào một việc chung, giúp làm hộ mà không lấy tiền công. Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1994 thì “trợ giúp” có nghĩa là “giúp đỡ”.
Thuật ngữ “giúp đỡ” lại được giải thích theo nghĩa tích cực là giúp để làm giảm bớt khó khăn, nghĩa là làm cho ai một việc gì đó hoặc cho ai cái gì đó mà người đó đang cần. Cái đang cần ở đây là “pháp lý” theo nghĩa rộng của từ này. Ngoài ra, trong một số tài liệu khác còn gọi là “hỗ trợ pháp luật”, “hỗ trợ pháp lý” hoặc “hỗ trợ tư pháp”. Như vậy, có nhiều cách gọi khác nhau về thuật ngữ này nhưng cụm từ “trợ giúp” có nghĩa chung nhất, bao hàm nội dung sự “giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ” và thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” đang được sử dụng chính thức trong các văn bản pháp luật như hiện nay có tính khái quát hơn cả, thể hiện rõ được bản chất của trợ giúp pháp lý.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tham khảo tài liệu của các nước trên thế giới và theo các nghiên cứu trước đây, bản chất của hoạt động trợ giúp pháp lý được nhận diện ở những đặc điểm sau đây: - Trợ giúp pháp lý là một loại hình dịch vụ pháp lý, do những người có trình độ am hiểu pháp luật thực hiện trên cơ sở pháp luật nhằm phục vụ để thoả mãn nhu cầu giúp đỡ pháp luật của người nghèo và đối tượng chính sách thông qua việc tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, giúp đỡ thực hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính, giải quyết khiếu nại… Trợ giúp pháp lý còn là một dịch vụ pháp lý chứa đựng tính nhân văn sâu sắc, luôn vì con người, bởi đối tượng phục vụ là những người có hoàn cảnh đặc biệt cần phải được Nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ (người nghèo, đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số, người tàn tật, trẻ em, người già cô đơn không nơi nương tựa.); - Trợ giúp pháp lý mang tính pháp lý rõ nét bởi chính phương thức hoạt động và mục đích hướng tới của nó. Trợ giúp pháp lý là sự giúp đỡ, hỗ trợ về các vấn đề có liên quan đến pháp luật như tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích cho các đối tượng trợ giúp pháp lý theo quy định, góp phần tổ chức thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống và tạo cơ hội tiếp cận pháp luật thuận lợi cho các đối tượng này. Trợ giúp pháp lý ở một số nước nhấn mạnh đến tính pháp lý như Hàn Quốc: trợ giúp pháp lý là việc một luật sư hoặc một cán bộ pháp lý Nhà nước cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, đại diện hoặc các dịch vụ trợ giúp khác có liên quan đến pháp luật. Ở Anh và xứ Wales, trợ giúp pháp lý được hiểu là giúp đỡ cho những người không có khả năng chi trả cho việc tư vấn, hỗ trợ và đại diện pháp lý; ở Đức, trợ giúp pháp lý là việc giúp đỡ một phần hoặc toàn bộ tài chính cho những người không có khả năng thanh toán cho các chi phí về tư vấn pháp luật, đại diện hoặc bào chữa trước Toà án; ở Québec - Canada, trợ giúp pháp lý cũng được 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nói đến với bản chất là hoạt động có mục đích tạo điều kiện cho những người gặp khó khăn về tài chính có cơ hội tiếp cận với dịch vụ pháp lý.
- Trợ giúp pháp lý thể hiện tính chính trị - xã hội: trợ giúp pháp lý là nhiệm vụ trước hết của Nhà nước, thuộc chức năng xã hội của Nhà nước nhằm góp phần khắc phục sự bất bình đẳng trong tiếp cận với pháp luật và xóa nghèo về pháp luật. Từ đó, góp phần thiết lập sự ổn định chính trị, bảo vệ chế độ chính trị và các quan hệ xã hội theo ý chí của Nhà nước, làm tăng niềm tin của người dân vào chế độ. Trợ giúp pháp lý là một “kênh” hiệu quả để Nhà nước điều tiết, giải quyết các mối quan hệ xã hội đang có sự bất ổn, giữ đoàn kết cộng đồng, bảo đảm ổn định trật tự và an toàn xã hội. Ví dụ, người Úc nhìn nhận trợ giúp pháp lý là sự giúp đỡ cho một người có được hoàn cảnh và điều kiện tương tự như người khác trong việc tiếp cận với pháp luật, tức là tạo ra sự công bằng khi tiếp cận với pháp luật.
Hay tại Điều 1001 Đạo luật về công ty dịch vụ pháp lý được sửa đổi năm 1977 của Mỹ quy định: trợ giúp pháp lý là tạo sự công bằng khi tiếp cận pháp luật của các cá nhân không thể thuê mướn luật sư, tạo cơ hội cho những người có thu nhập thấp. Ở Việt Nam, thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” được sử dụng trong các tài liệu từ năm 1995, khi bắt đầu nghiên cứu xây dựng Đề án về hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam. Đến năm 1996, thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” được sử dụng trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp: “Mô hình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay”.