phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển nguồn lực thông tin tại Thƣ viện trƣờng Đại học Hà Nội Chƣơng 2: Thực trạng công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thƣ viện trƣờng Đại học Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển nguồn lực thông tin tại Thƣ viện trƣờng Đại học Hà Nội 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI 1. Cơ sở lý luận về nguồn lực thông tin và phát triển nguồn lực thông tin 1. Khái niệm nguồn lực thông tin Nguồn lực thông tin (NLTT) là một thuật ngữ chuyên ngành thông tin thƣ viện đƣợc dịch từ tiếng Anh là “Information Resource”. Nội hàm của khái niệm NLTT có nhiều quan điểm khác nhau, tùy theo cách tiếp cận khác nhau.
Cho đến nay trên thế giới đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về NLTT, nhƣng mỗi ngƣời lại đƣa ra những quan niệm khác nhau. Nhà thƣ viện học Edward Evans cho rằng “nguồn lực thông tin là tập hợp của các loại hình tài liệu, bao gồm cả đĩa CD-ROM có liên kết với các trang web mà người dùng tin có thể dễ dàng truy cập và xem những nội dung có vẻ lỗi thời của kỷ nguyên trước đây qua máy tìm goole”[34].Y Knoppers trong công trình lại cho rằng “nguồn lực thông tin là một phần sản phẩm của trí tuệ, sản phẩm của lao động khoa học, kiến thức, sáng tạo của con người, phản ánh những thông tin kiểm soát, được ghi lại dưới dạng vật chất nào đó”[35]. Theo đó, nguồn lực thông tin phải đƣợc cấu trúc, tổ chức lại giúp con ngƣời có thể tìm và khai thác đƣợc chúng theo nhiều cách khác nhau. Tuy hai tác giả trên có những quan điểm khác nhau về NLTT nhƣng cả hai tác giả đều phản ánh đƣợc thành phần và tính chất, sứ mệnh của NLTT.
Trên một số trang web, NLTT cũng đƣợc định nghĩa khác nhau, nhƣ trên trang Bách khoa toàn thƣ của PC magazine, tại địa chỉ: http://www.com/encyclopedia/term/44956/information-resources “Nguồn lực thông tin được xem là tài nguyên thông tin, dữ liệu của một cơ quan, tổ chức hay một đơn vị” (Information resources are defined as the data and information assets of an organization, department or unit ) Bên cạnh quan điểm coi NLTT là thông tin, dữ liệu, cũng có một quan điểm khác xem NLTT theo nghĩa rộng hơn. Trong từ điển trực tuyến (có địa chỉ http://www.com/information+resources) NLTT đƣợc xem với 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghĩa rất rộng “nguồn lực thông tin không chỉ là thông tin dữ liệu mà còn bao gồm cả nguồn nhân lực, thiết bị và công nghệ thông tin” (Information and related resources, such as personnel, equipment, and information technology ) Có thể nói, mỗi tác giả quan niệm NLTT theo một cách hiểu khác nhau nhƣng chủ yếu tập trung theo 2 xu hƣớng: theo nghĩa hẹp coi NLTT là tài nguyên thông tin dữ liệu, và theo nghĩa rộng coi NLTT không chỉ là thông tin dữ liệu mà bao gồm cả nguồn nhân lực, thiết bị. Ở Việt Nam, theo Tiến sĩ Lê Văn Viết, nội hàm của thuật ngữ nguồn lực thông tin vẫn chƣa đƣợc thống nhất, còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau: “có ngƣời cho rằng nó tƣơng đƣơng nhƣ vốn tài liệu trong cơ quan TT-TV, ngƣời khác lại đƣa ra quan điểm nguồn lực thông tin không chỉ bao hàm các nguồn lực về tài liệu mà còn gồm các thành phần khác nhƣ tài liệu, thông tin, nhân lực thông tin. Tuy nhiên có thể khẳng định rằng, hiện nay, ở trong nƣớc, phần lớn các tác giả đều hiểu NLTT theo nghĩa hẹp, nghĩa là NLTT đƣợc hiểu nhƣ nguồn tin hay vốn tài liệu của thƣ viện, là phần tích cực của tiềm lực thông tin, đó là những nguồn tin đƣợc kiểm soát, tổ chức lại theo một cách thức nhật định để có thể truy cập, tìm kiếm, khai thác, sử dụng một cách thuận tiện nhất, đồng thời phục vụ các mục đích khác nhau trong hoạt động của thƣ viện.
Quan điểm này đƣợc thể hiện trong chƣơng 1 điều 2 trong nghị định 159/2004/NĐ/CP về hoạt động thông tin KH&CN : "Nguồn tin khoa học và công nghệ bao gồm sách, báo, tạp chí, cơ sở dữ liệu, tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tài liệu về sở hữu trí tuệ, tài liệu về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, luận văn, luận án sau đại học và các nguồn tin khác được tổ chức, cá nhân thu thập.”[13] Hay trong Pháp lệnh Thƣ viện đã quy định” Vốn tài liệu thư viện là những tài liệu được sưu tầm, tập hợp theo nhiều chủ đề, nội dung nhất định, được xử lý theo quy tắc, quy trình khoa học của nghiệp vụ thư viện để tổ chức phục vụ người học đạt hiệu quả cao và được bảo quản”[14] Quan điểm này cũng đƣợc khẳng định trong các công trình của các tác giả sau: 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong cuốn Thư viện học, Những bài viết chọn lọc, T.S Lê Văn Viết cho rằng: “NLTT là tổ hợp các tài liệu phản ánh những kết quả NCKH trong hoạt động nhận thức thực tiễn của con người” [31,tr.TS Nguyễn Hữu Hùng trong công trình Thông tin từ lý luận đến thực tiễn, thì cho rằng “NLTT bao gồm các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản số, hình ảnh hoặc âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước và không theo quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, những kiến thức của tổ chức có thể truy cập và có giá trị cho người sử dụng”[8,tr. Trần Thị Quý “NLTT chính là các dạng vật chất khác nhau lưu giữ các thông tin/tri thức của con người được tổ chức, sắp xếp lại, có cấu trúc, ý nghĩa, có nội dung mà con người có thể khai thác được chúng theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. NLTT này do một cá nhân, tổ chức nào đó kiểm soát nhằm phục vụ cho lợi ích của con người.S Nguyễn Viết Nghĩa trong Tập bài giảng Phát triển và quản trị nguồn tin dành cho học viên cao học ngành Khoa học Thư viện cho rằng “NLTT là tập hợp có tổ chức các loại hình tài liệu dưới mọi định dạng khác nhau của một cơ quan, tổ chức nhằm thỏa mãn nhu cầu của người dùng tin”[17] Nhƣ vậy về cơ bản các khái niệm NLTT đƣợc trình bày ở mục trên theo nghĩa hẹp là đồng nghĩa với nhau và đều chỉ tới các nguồn tài liệu, sách, báo, tạp chí, dƣới mọi định dạng khác nhau đƣợc tổ chức, kiểm soát và dễ dàng truy cập và chia sẻ để giải quyết những vấn đề liên quan đến NLTT và phù hợp với chức năng, loại hình, đặc điểm của cơ quan TT-TV bao hàm cả tiềm lực thông tin và khả năng vƣơn tới các nguồn tin khác nhau. Theo nghĩa này, nguồn lực thông tin gồm các nguồn tài liệu sách, báo, tạp chí, luận văn…dƣới mọi hình thức vật lý khác nhau và các cơ sở dữ liệu, các công cụ tra cứu, và đây cũng chính là nghĩa mà tác giả muốn tiếp cận trong khuôn khổ luận văn này.
Khái niệm phát triển nguồn lực thông tin Theo từ điển Tiếng Việt, “phát triển” có nghĩa là mở mang, từ nhỏ thành to, từ yếu thành mạnh. Trong phạm trù triết học, “phát triển” là một thuộc tính phổ biến 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của vật chất. Mọi sự vật và hiện tƣợng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái bất biến mà trải qua hàng loạt các trạng thái từ khi xuất hiện đến khi tiêu vong. Phạm trù phát triển thể hiện tính chất chung của tất cả những biến đổi ấy.
Điều ấy có nghĩa là bất kì một sự vật, một hiện tƣợng, một hệ thống nào, cũng nhƣ cả thế giới nói chung không chỉ có biến đổi, mà luôn luôn chuyển sang những trạng thái mới, tức là những trạng thái trƣớc đây chƣa từng có và không bao giờ lặp lại hoàn toàn chính xác những trạng thái đã có, bởi vì trạng thái của bất kì sự vật hay hệ thống nào cũng đều đƣợc quyết định không chỉ bởi các mối liên hệ bên trong, mà còn bởi các mối liên hệ bên ngoài. Nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, phƣơng thức phát triển là chuyển hóa những thay đổi về lƣợng thành những thay đổi về chất. Nhƣ vây, có thể hiểu “phát triển” là sự biến đổi của sự vật, hiện tƣợng từ trạng thái cũ sang trạng thái mới, đó là sự biến đổi cả về chất và lƣợng của sự vật, hiện tƣợng. Hiện nay khái niệm “Phát triển nguồn lực thông tin” cũng tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau.
Nhà thƣ viện học Edward Evans trong tác phẩm “Phát triển vốn tài liệu và trung tâm thông tin” cho rằng “Phát triển nguồn lực thông tin/vốn tài liệu của thư viện hay trung tâm thông tin chính là quá trình nhận biết các điểm mạnh và điểm yếu của vốn tài liệu trên cơ sở nhu cầu của người sử dụng và các nguồn tin từ cộng đồng để cố gắng sửa chữa những điểm yếu đang tồn tại, nếu có”. [34] Theo Từ điển giải nghĩa thƣ viện học và tin học của Hiệp hội thƣ viện Mỹ (The ALA glossary of library and information science) “Phát triển nguồn lực thông tin” là sự phát triển bộ sƣu tập của thƣ viện, bao gồm việc xác định và phối hợp chính sách tuyển chọn, lƣợng định nhu cầu của ngƣời sử dụng, những nghiên cứu về việc sử dụng sƣu tập, việc đánh giá sƣu tập, nhận diện các nhu cầu của sƣu tập, tuyển chọn tài liệu, lập kế hoạch về việc chia sẻ tài nguyên, việc bảo quản sƣu tập và việc loại bỏ tài liệu ra khỏi sƣu tập. Giúp cho ngƣời dùng tin có thể tra cứu, khai thác thỏa 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mãn nhu cầu thông tin của mình. Phát triển NLTT là một dạng hoạt động tất yếu, có ý nghĩa to lớn đến việc phát triển thƣ viện một cách bền vững.
Quá trình phát triển NLTT đòi hỏi phải đầu tƣ lớn và liên tục. Để làm tốt công tác này, các cơ quan TT- TV cần có cách tiếp cận hợp lý, khả thi và kinh tế. Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát triển nguồn lực thông tin Có nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát triển NLTT, về phía chủ quan đó là trình độ của cán bộ, ngân sách, kho tàng, trang thiết bị của thƣ viện, khả năng tiếp cận tới nguồn tin bên ngoài thƣ viện,.