phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm 04 chƣơng: Chƣơng 1: Cở sở lý luận và thực tiễn về phát triển khai thác thủy sản Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng phát triển khai thác thủy sản tại huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh Chƣơng 4: Giải pháp phát triển khai thác thủy sản tại huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KHAI THÁC THỦY SẢN 1. Khái niệm, đặc điểm phát triển khai thác thủy sản 1. Khái niệm khai thác thủy sản Thủy sản là những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con ngƣời từ môi trƣờng nƣớc và đƣợc con ngƣời khai thác, nuôi trồng thu hoạch, sử dụng.
Nuôi trồng thủy sản đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lớn đến 500 triệu ngƣời ở các nƣớc đang phát triển phụ thuộc vào nghề cá và nuôi trồng thủy sản. Khai thác thủy sản là hoạt động sản xuất dựa trên cơ sở kết hợp giữa kĩ thuật đánh bắt tác động trực tiếp lên tài nguyên thiên nhiên sẵn có (nhƣ cá, tôm, mực, cua, ghẹ, bào ngƣ, hải sâm.) có sự tham gia trực tiếp của con ngƣời. Đặc điểm của khai thác thủy sản - Khai thác thủy sản là một ngành phát triển trên phạm vi cả nƣớc và có đối tƣợng phức tạp so với các ngành sản xuất khác. - Khai thác thủy sản có tính thời vụ cao.
- Đối tƣợng sản xuất của ngành Khai thác thủy sản là những cơ thể sống, chúng sinh trƣởng, phát triển theo các quy luật sinh học. - Ngoài ra, hoạt động khai thác thủy sảnViệt Nam còn có những đặc điểm riêng: - Ngành Khai thác thủy sảnViệt Nam còn nhỏ, phân tán, lao động chủ yếu là thủ công, cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và quản lý của cán bộ còn yếu kém và tâm lý của ngƣời sản xuất còn lạc hậu. - Trong hoạt động khai thác thủy sản tại Việt Nam do ảnh hƣởng kĩ thuật khai thác truyền thống có sự khác biệt giữa các vùng cũng ảnh hƣởng đến công tác quản lý cũng nhƣ sản lƣợng hoạt động khai thác thủy sản. - Nghề Khai thác thủy sảnViệt Nam chịu ảnh hƣởng của khí hậu nhiệt đới ẩm có pha trộn ít khí hậu vùng ôn đới.
Phát triển khai thác thủy sản Phát triển là một khái niệm mới nảy sinh từ sau cuộc khủng hoảng môi trƣờng do đó cho đến nay chƣa có một định nghĩa nào đầy đủ và thống nhất. Một số Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 định nghĩa của Khoa học Môi trƣờng bàn về phát triển gồm có: Theo Hội đồng thế giới về môi trƣờng và phát triển (World Commission and Environment and Development, WCED) thì “Phát triển là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tƣơng lai”. Phát triển là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ƣu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhƣng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tƣơng tự trong tƣơng lai (Gôdian và Hecdue, 1988; GS Grima Lino); Về kinh tế, phát triển bao hàm việc cải thiện giáo dục, chăm lo sức khoẻ cho phụ nữ và trẻ em, chăm lo sức khoẻ cho cộng đồng, tạo ra sự công bằng về quyền sử dụng đất, đồng thời xóa dần sự cách biệt về thu nhập cho mọi thành viên trong cộng đồng xã hội. Về con ngƣời, để đảm bảo phát triển cần thiết nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật cho ngƣời dân, nhờ vậy ngƣời dân sẽ tích cực tham gia bảo vệ môi trƣờng cho sự phát triển.
Nhu cầu hƣớng đến sản xuất ngày càng gia tăng. Sản xuất bao gồm việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật mới, sáng tạo trong thiết kế và cải tiến sản phẩm, cũng nhƣ chú trọng đến các quá trình sản xuất nhƣ khuyến khích áp dụng sinh thái công nghiệp, các tiếp cận vòng đời sản phẩm, sản xuất sạch hơn, sản xuất xanh. Tại các nƣớc phát triển, những cải tiến, đổi mới về quá trình, công nghệ sản xuất đã giúp giảm bớt lƣợng năng lƣợng cần sử dụng, giảm thiểu lƣợng phát thải các chất ô nhiễm nhƣ các oxit lƣu huỳnh và các kim loại nặng, cũng nhƣ giúp tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, những thành quả về môi trƣờng và kinh tế đạt đƣợc từ những đổi mới, cải tiến sản xuất này lại bị bù trừ do ảnh hƣởng của nhu cầu tiêu thụ, chẳng hạn nhƣ việc gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao chất lƣợng cuộc sống.
Vấn đề cần chú ý là những nỗ lực giúp các sản phẩm và dịch vụ trở nên hoà hợp, tƣơng thích với môi trƣờng, cũng nhƣ đem lại các lợi ích về kinh tế (tiết kiệm chi phí) cho các công ty từ những cải tiến trên lại tạo ra điều kiện rất thuận lợi để tiêu thụ nhiều hơn các sản phẩm và dịch vụ đó, và do đó phần nào phủ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 nhận những lợi ích đạt đƣợc từ việc cải tiến quá trình sản xuất. Phát triển khai thác thủy sản Quản lý và bảo vệ các nguồn lợi thủy sản, hƣớng tới thay đổi về kỹ thuật và thể chế nhằm đảm bảo đạt đƣợc sự thỏa mãn các nhu cầu thƣờng xuyên của con ngƣời cho thế hệ hôm nay và mai sau. Phát triển khai thác thủy sản là sự phát triển thân thiện với môi trƣờng, không làm môi trƣờng bị suy thoái, phù hợp về công nghệ và kỹ thuật, thúc đẩy phát triển kinh tế, hƣớng vào cộng đồng ngƣ dân. Xây dựng một ngành khai thác thủy sản đó là xu hƣớng tất yếu của tiến trình phát triển.
Vai trò của phát triển khai thác thủy sản - Cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu xã hội: thủy sản là một nguồn quan trọng cung cấp protein trong khẩu phần ăn trên khắp thế giới, đặc biệt là các vùng ven biển. Thủy sản là nguồn thực phẩm phong phú về chủng loại, bao gồm các loại cá, tôm, cua, ốc, mực… Thủy sản là nguồn thực phẩm quan trọng của con ngƣời, không những có hƣơng vị thơm ngon mà còn có giá trị dinh dƣỡng cao. Nhiều loại thủy sản đƣợc dung làm thực phẩm và đƣợc chế biến làm nhiều món ăn. 50% sản lƣợng đánh bắt thủy sản ở vùng biển Bắc Bộ, Trung Bộ và 40% sản lƣợng đánh bắt ở vùng biển Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ đƣợc dung làm thực phẩm cho nhu cầu của ngƣời dân Việt Nam.
Nuôi trồng thủy sản phát triển rộng khắp tới tận các vùng sâu, vùng xa, góp phần chuyển đổi cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn của ngƣời dân Việt Nam, cung cấp dinh dƣỡng dồi dào. Ở tầm vĩ mô, dƣới góc độ nhành kinh tế uốc dân, phát triển khai thác thủy sản đã góp phần đảm bảo an ninh lƣơng thực thực phẩm, đáp ứng đƣợc yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho thức ăn. Có thể nói phát triển khai thác thủy sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho ngƣời dân, không những thế nó còn tạo cơ hội công ăn việc làm cho nhiều nhân dân, đặc biệt ở những vùng nông thôn và vùng ven biển. Những năm gần đây, công tác khuyến ngƣ đã tập trung vào hoạt động trình diễn các mô hình khai thác và nuôi trồng thủy sản, hƣớng dẫn ngƣời nghèo làm ăn.
Hiện tại, mô hình kinh tế hộ gia đình đƣợc đánh giá là đã giải uyết Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 cơ bản công ăn việc làm cho ngƣ dân ven biển. - Cung cấp nguyên liệu cho chế biến thủy sản: Khai thủy sản là một trong những nguyên liệu chủ yếu cho ngành chế biến ở Việt Nam. - Xóa đói giảm nghèo: Khai thác thủy sản là nguồn thu nhập trực tiếp và gián tiếp cho một bộ phận dân cƣ làm nghề khai thác, nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ cũng nhƣ các ngành dịch vụ cho nghề cá: Cảng, bến, đóng sửa tàu thuyền, sản xuất nƣớc đá, cung cấp dầu nhớt, cung cấp thiết bị nuôi…và sản xuất hàng tiêu dùng cho ngƣ dân. Ngành thủy sản đã lập nhiều chƣơng trình xóa đói giảm nghèo bằng việc phát triển các mô hình nuôi trồng thủy sản đến cả vùng sâu, vùng xa, không những cung ứng nguồn dinh dƣỡng, đảm bảo an ninh lƣơng thực mà còn góp phần xóa đói giảm nghèo.
Tại các vùng duyên hải, nuôi thủy sản nƣớc lợ đã chuyển mạnh từ phƣơng pháp nuôi uảng canh sang uảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh, thậm chí nhiều nơi đã áp dụng mô hình nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi công nghiệp. Các vùng nuôi tôm rộng lớn, hoạt động theo quy mô sản xuất hàng hóa lớn đã hình thành, một bộ phận dân cƣ các vùng ven biển đã giàu lên nhanh chóng, rất nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ khai thác thủy sản. - Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn. Việt Nam có đầy đủ điều kiện phát triển một cách toàn diện một nền kinh tế biển.
Nếu nhƣ trƣớc đây việc lấn ra biển, ngăn chặn những ảnh hƣởng của biển để mở rộng đất canh tác là định hƣớng cho một nền kinh tế nông nghiệp lúa nƣớc thì hiện nay việc tiến ra biển, kéo biển lại gần là một định hƣớng khôn ngoan cho một nền kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong những thập kỷ qua, nhiều công trình hồ thủy điện đã đƣợc xây dựng, khiến nƣớc mặn ngoài biển thâm nhập sâu vào các vùng cửa song, ven biển. Đối với nền canh tác nông nghiệp lúa nƣớc thì nƣớc mặn là một thảm họa, nhƣng với phát triển khai thác nuôi trồng thủy sản nƣớc mặn, nƣớc lợ thì nƣớc mặn đƣợc nhận thức là một tiềm năng mới, vì hoạt động khai thác thủy sản có thể có hiệu qủa gấp hang chục lần canh tác nông nghiệp. Một phần lớn diện tích canh tác nông nghiệp kém hiệu qủa đã đƣợc chuyển sang phát triển nuôi trồng khai thác thủy sản.
Nguyên nhân của hiện tƣợng này là do giá thủy sản trên thị trƣờng thế giới những năm gần đây tăng cao, trong khi giá các loại nông sản xuất khẩu khác của Việt nam lại bị giảm sút dẫn đến nhu cầu chuyển đổi cơ cấu diện tích giữa khai thác nuôi trồng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 thủy sản với nông nghiệp càng trở nên cấp bách. - Tạo nghề mới, tăng hiệu quả sử dụng đất. Ao hồ nhỏ là một thế mạnh của nuôi trồng thủy sản ở các vùng nông thôn Việt Nam.