CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨC KHOA HỌC 1. Một số khái niệm 1. Nguồn nhân lực Khái niệm "Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm NNL với các góc độ khác nhau và từ đó sẽ hình thành các phương thức khác nhau trong việc phát triển NNL cho quốc gia hay cho một tổ chức.
Theo thuyết về vốn con người (Human Capital), con người được coi là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất, là phương tiện để phát triển kinh tế - xã hội. NNL quyết định việc sử dụng các nguồn lực khác (như vốn, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, đất đai…), vì vậy cần phải được đầu tư để phát triển. Trên thực tế, đầu tư cho con người có tỷ lệ thu hồi vốn cao và mang lại nguồn lợi lớn hơn so với đầu tư vật chất. Theo cách tiếp cận của Liên hiệp quốc (UN) thì: NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước [8].
Cách tiếp cận về NNL theo hướng này thiên về chất lượng NNL, xem xét vai trò, sức mạnh của NNL đối với sự phát triển xã hội. Theo Ngân hàng thế giới (WB): NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… mà mỗi cá nhân sở hữu. Đầu tư cho con người là đầu tư quan trọng nhất trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững. Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân (2005) xác định nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người, nhóm người, tổ chức, địa phương, vùng, quốc gia.
Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển [11]. 7 Phạm Minh Hạc (2007) quan niệm nguồn nhân lực là tổng thể tiềm năng lao động của một đất nước, một cộng đồng, bao gồm cả dân số trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động. Vì thế nguồn nhân lực cần được quản lý, chăm sóc và phát triển từ khi là thai nhi, tuổi ấu thơ, tuổi vị thành niên, đến tuổi lao động và cả thời kỳ sau tuổi lao động [5]. Theo Tổng Cục Thống kê Việt Nam: NNL gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng chưa có việc làm (do thất nghiệp, làm nội trợ); và nguồn lao động dự trữ (những người đang được đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề…).
Từ những quan điểm nêu trên và gắn với góc độ nghiên cứu của luận văn có thể hiểu: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động của xã hội với thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… đang và sẽ tham gia vào quá trình lao động, tạo ra mọi của cải vật chất, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nguồn nhân lực được đặc trưng bởi ba yếu tố cơ bản: số lượng, chất lượng và cơ cấu NNL. Về mặt số lượng, đó là toàn bộ những người lao động đang có khả năng và là những người sẽ tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Về chất lượng: NNL được thể hiện ở năng lực thể chất, tinh thần, trình độ tri thức, năng lực thực tế, kỹ năng nghề nghiệp.
Cơ cấu nhân lực gồm các cơ cấu chủ yếu: cơ cấu ngành nghề được đào tạo, cơ cấu chất lượng nhân lực, cơ cấu giới tính, cơ cấu độ tuổi… Nhân lực khoa học công nghệ Nhân lực KH&CN là một bộ phận nhân lực quan trọng trong tổng thể NNL của xã hội. Đây là NNL chất lượng cao đóng vai trò quyết định đến sứ mạng phát triển KH&CN của một quốc gia, từ đó tạo ra sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Trên thế giới có một số quan niệm khác nhau về nhân lực KH&CN: Theo nghĩa rộng, nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây: (i) đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng và làm việc trong một ngành KH&CN; (ii) đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng không làm việc trong một ngành KH&CN nào; (iii) chưa tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương. Tuy nhiên, có thể thấy rằng khái niệm này dường như quá rộng để thể hiện NNL hoạt động khoa học và công nghệ của một quốc gia, và do đó, rất khó cho việc thống kê, phân tích nhân lực KH&CN.
Để khắc phục khó khăn này, hầu hết các 8 nước thường sử dụng khái niệm nhân lực nghiên cứu phát triển - R&D (research and development), để thể hiện nhân lực KH&CN của mình [9]. Ở Việt Nam, khái niệm về nhân lực KH&CN được vận dụng dựa trên Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, gồm các đối tượng “Đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng và làm việc trong một ngành khoa học và công nghệ; đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, nhưng không làm việc trong một ngành khoa học và công nghệ nào; chưa tốt nghiệp đại học, cao đẳng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực khoa học và công nghệ đòi hỏi trình độ tương đương” [39]. Hiện nay, theo quan niệm phổ biến, NNL tham gia hoạt động KH&CN nước ta gồm 5 thành phần chủ yếu sau đây: - Viên chức làm công tác nghiên cứu khoa học (giữ các chức danh khoa học như trợ lý nghiên cứu, nghiên cứu viên, nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên cao cấp), làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập (học viện, viện nghiên cứu, trường đại học…); - Viên chức giữ các chức danh công nghệ (kỹ thuật viên, kỹ sư, kỹ sư chính, kỹ sư cao cấp) làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập, các doanh nghiệp khoa học và công nghệ; - Cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; - Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài làm việc trong lĩnh vực khoa học và công nghệ tại Việt Nam; - Các cá nhân thuộc mọi tầng lớp xã hội yêu thích khoa học kỹ thuật, có sáng kiến cải tiến, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống Trong luận văn, đối tượng nghiên cứu là đội ngũ viên chức khoa học của VASS, một bộ phận trong NNL KH&CN của Việt Nam. Phát triển nguồn nhân lực Thuật ngữ phát triển NNL gắn liền với sự hoàn thiện, nâng cao chất lượng NNL, được thể hiện ở việc nâng cao trình độ giáo dục quốc dân, trình độ kỹ thuật, chuyên môn, sức khoẻ và thể lực cũng như ý thức, đạo đức của NNL.
NNL tự thân nó bao gồm những con người có các hoạt động sáng tạo, là nguồn lực có thể tự thay đổi để thích ứng với môi trường hoạt động, và là nguồn lực có thể tự phát triển hoặc phát triển nhờ các hoạt động của quốc gia, của tổ chức. 9 Phát triển NNL chính là quá trình biến đổi NNL nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng con người. Đó là quá trình phát triển cả năng lực vật chất và năng lực tinh thần, tạo dựng và ngày càng nâng cao, hoàn thiện cả về đạo đức và tay nghề, cả về tâm hồn, hành vi, từ trình độ chất lượng này lên trình độ chất lượng khác cao hơn và toàn diện hơn. Để đạt được điều này cần tạo điều kiện cho con người được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cần thiết như giáo dục - đào tạo, chăm sóc y tế, có môi trường cuộc sống phong phú, lành mạnh và an toàn.
Các nhà nghiên cứu của UNDP cho rằng: Phát triển NNL chịu sự tác động của năm nhân tố: giáo dục - đào tạo, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và sự giải phóng con người. Trong quá trình tác động đến sự phát triển NNL, những nhân tố này luôn gắn bó, hỗ trợ và phụ thuộc lẫn nhau, trong đó, giáo dục - đào tạo là nhân tố nền tảng, là cơ sở của tất cả các nhân tố khác. Nhân tố sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con người là những nhân tố thiết yếu, nhằm duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững NNL. Nền sản xuất càng phát triển, thì phần đóng góp của trí tuệ thông qua giáo dục - đào tạo ngày càng chiếm tỷ trọng lớn so với đóng góp của các yếu tố khác trong cơ cấu giá trị sản phẩm của lao động [UNDP, 2013].
Còn theo Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), phát triển NNL bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung,mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh: Phát triển NNL là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hoá; truyền thống lịch sử. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển NNL là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) NNL và nâng cao về mặt chất lượng NNL, tạo ra cơ cấu NNL ngày càng hợp lý. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát triển 10 NNL là quá trình làm cho con người trưởng thành, có năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội cao [7].
Theo đó, phát triển NNL là nhằm cung cấp NNL có chất lượng thông qua sự biến đổi tăng lên về lượng và chất, và đòi hỏi có sự bố trí hợp lý trong sử dụng NNL. Có thể thấy, mặc dù có sự diễn đạt khác nhau song có một điểm chung nhất là phát triển NNL là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển quốc gia.