CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NHÂN VIÊN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm đội ngũ nhân viên kinh doanh Khái niệm nhân viên kinh doanh: Khái niệm về kinh doanh: Theo giáo trình Lý thuyết quản trị kinh doanh, “Kinh doanh là các hoạt động kinh tế nhầm mục tiêu sinh lờí của các chủ thể kinh doanh trên thị trường” [2, tr. Từ khía niệm về kinh doanh, tác giả rút ra khái niệm nhân viên kinh doanh: “Nhân viên kinh doanh là những người mang thông tin về sản phẩm từ doanh nghiệp truyền đạt tới khách hàng, thuyết phục khách hàng và bán sản phẩm cho khách hàng bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm giải quyết bài toán doanh số của doanh nghiệp”.
Như vậy, “đội ngũ nhân viên kinh doanh là tập thể (toàn bộ) những người mang thông tin về sản phẩm từ doanh nghiệp truyền đạt tới khách hàng, thuyết phục khách hàng và bán sản phẩm cho khách hàng bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm giải quyết bài toán doanh số của doanh nghiệp”. Đội ngũ nhân viên kinh doanh là một phần của tổ chức, doanh nghiệp, vậy đội ngũ nhân viên kinh doanh có phải là nguồn lực của tổ chức, doang nghiệp không, để làm rõ vấn đề này, tác giả làm rõ hơn khái niệm về nguồn nhân lực xét trong phạm vị tổ chức, doanh nghiệp. Khái niệm nguồn nhân lực: Theo giáo trình Quản trị nhân lực, Đại học Lao động – Xã hội (2009) thì: “Nguồn nhân lực của tổ chức là nguồn lực của toàn thể cán bộ, công 11 nhân viên lao động trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức. Sức mạnh của tập thể lao động vận dụng vào việc đạt được những mục tiêu chung của tổ chức, trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu riêng của mỗi thành viên” [4, tr.TS Bùi Văn Nhơn định nghĩa: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” [10, tr.
Theo luận án tiến sĩ (2009) của TS. Lê Thị Mỹ Linh thì: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó có sức khoẻ và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp” [8, tr. Như vậy, khái niệm nguồn nhân lực được hiểu như sau: Nguồn nhân lực của một tổ chức là khả năng làm việc của toàn bộ người lao động trong tổ chức đó, có khả năng lao động và tiềm năng sáng tạo vô hạn, cần được quản lý và phát triển không ngừng nhằm đáp ứng vai trò nguồn lực hạt nhân trong quá trình thực thi sứ mạng của tổ chức. Như vậy, đội ngũ nhân viên kinh doanh chính là một trong những nguồn nhân lực của tổ chức, doanh nghiệp.
Khái niệm phát triển, phát triển đội ngũ nhân viên kinh doanh Theo Từ điển Tiếng Việt “Phát triển là quá trình vận động, tiến triển theo hướng tăng lên, ví dụ phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, phát triển xã hội…” [9, tr 81]. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới. Phát triển là 12 một thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong,… nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” [10, tr 67].
Theo giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, Bộ giáo dục và đào tạo, “Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật. Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn. Dù được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, nhưng “Phát triển” có thể hiểu là sự vận động của sự vật hiện tượng theo chiều hướng đi lên, giúp sự vật hiện tượng hoàn thiện hơn.
Đội ngũ nhân viên kinh doanh chính là một trong những nguồn nhân lực của tổ chức, doanh nghiệp như nghiên cứu ở trên, tác giả dựa vào khái niệm phát triển nguồn nhân lực để rút ra kết luận về khái niệm phát triển đội ngũ nhân viên kinh doanh. Bùi Văn Nhơn trong sách Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội xuất bản năm 2006: “Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất, và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển” [10, tr. Từ những khái niệm trên, có thể hiểu: “Phát triển đội ngũ nhân viên kinh doanh là quá trình hoàn thiện và nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên 13 kinh doanh của tổ chức thông qua các hoạt động: duy trì số lượng và cơ cấu hợp lý; nâng cao thể lực, kiến thức, kỹ năng, phẩm chất của đội ngũ nhân viên kinh doanh nhằm hoàn thành nhằm giải quyết bài toán doanh số của doanh nghiệp dễ dàng nhất”. Đặc điểm, nhiệm vụ của đội ngũ nhân viên kinh doanh: - Phát triển kế hoạch nhằm tìm kiếm khách hàng mới.
- Tìm hiểu nhu cầu của khách hàng và tư vấn, đề xuất các giải pháp phù hợp cho khách hàng. - Đàm phán và chốt hợp đồng, duy trì mối quan hệ khách hàng trước, trong và sau bán hàng. - Phân tích xu hướng và dự đoán tiếp thị và nghiên cứu các điều kiện thị trường để phát triển mục tiêu bán hàng và chiến lược tiếp thị. - Phát triển chiến lược của công ty, chiến lược tiếp thị và các kênh truyền thông quảng cáo để giới thiệu và quảng bá sản phẩm và dịch vụ tới các thị trường tiềm năng.
- Giữ chân khách hàng hiện tại. Với những đặc điểm, nhiệm vụ của đội ngũ nhân viên kinh doanh, một nhân viên kinh doanh cần có những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng: - Kiến thức về sản phẩm, thị trường. - Kiến thức về đối thủ cạnh tranh. - Kỹ năng giao tiếp.
- Kỹ năng đàm phán, thương lượng. - Kỹ năng làm việc nhóm… 14 1. Các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển đội ngũ nhân viên kinh doanh 1. Tiêu chí về số lượng Phát triển về số lượng đội ngũ nhân viên kinh doanh là sự gia tăng về số lượng của đội ngũ nhân viên theo hướng phù hợp với môi trường và điều kiện hoạt động mới.
Đảm bảo số lượng nhân viên kinh doanh, đáp ứng đủ số lượng theo nhu cầu cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh là thể hiện phát triển nguồn nhân lực. Về số lượng: Là tổng số nhân viên kinh doanh trong công ty. Số lượng nhân viên kinh doanh có đủ để thực hiện mục tiêu về sản xuất của công ty không? Việc xác định số lượng dựa trên căn cứ xây dựng định biên lao động hay do sự quyết định chủ quan của chủ doanh nghiệp. Về cơ cấu: Cơ cấu nhân viên kinh doanh trên tổng số lao động công ty: Tỷ lệ về lao động phù hợp tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty.
Với những doanh nghiệp áp dụng khoa học công nghệ vào quản lý thì tỷ lệ lao động quản lý sẽ thấp và ngược lại. Với những doanh nghiệp sản xuất, sử dụng sức người là chính, tương quan giữa nhóm vị trí trực tiếp (kinh doanh và sản xuất) với vị trí gián tiếp 65% và 35%, quản lý với nhân viên là 15% – 85% là tỷ lệ hợp lý. Cơ cấu theo giới tính: là sự phân chia nhân lực thành hai bộ phận nam và nữ. Cơ cấu giới tính trước hết cho phép xác định tỷ lệ nam và nữ bằng cách so sánh số nam hoặc nữ với tổng số lượng lao động kinh doanh.
Giới tính cũng có vai trò quyết định để cân bằng sinh thái của cộng đồng nói chung và của một đơn vị, tổ chức nói riêng trong những mối liên hệ xã hội và kinh tế mật thiết. 15 Cơ cấu đội ngũ nhân viên kinh doanh theo độ tuổi: có tác động đến tính ổn định của số lượng và chất lượng. Cơ cấu tuổi là chỉ tiêu không thể thiếu được để thiết kế các chương trình đào tạo và chăm sóc sức khỏe cho người lao động. Cơ cấu tuổi của nhân lực theo hướng trẻ hoá sẽ dẫn đến áp lực về nhu cầu lập gia đình, sinh đẻ.
ngoài ra khi cơ cấu nhân lực theo độ tuổi thấp phản ánh lao động chưa có nhiều kinh nghiệm, trình độ đào tạo thấp dẫn tới chất lượng lao động không cao. Việc nghiên cứu cơ cấu đội ngũ nhân viên kinh doanh để xem xét % cơ cấu nguồn nhân lực phù hợp hay không phù hợp là phải căn cứ vào quy mô, mục tiêu, sự phát triển của doanh nghiệp trong mỗi thời kỳ nhất định. Tiêu chí về chất lượng - Thể lực: Là năng lực thể chất của đội ngũ lao động. Đây là tiêu chí khá quan trọng về chất lượng nhân lực, thường bao gồm tiêu chí về tình trạng sức khỏe của con người như: chiều cao, cân nặng, bệnh tật, tuổi thọ, trạng thái thoải mái về tinh thần cũng như thể chất và xã hội của con người.
Bộ Y tế quy định phân loại sức khỏe theo thể lực cho từng loại như sau: Bảng 1.1: Quy định phân loại sức khỏe theo thể lực Việt Nam Loại NAM NỮ sức Chiều Cân Vòng Chiều cao Cân Vòng nặng khỏe cao (cm) nặng (kg) ngực (cm) (cm) (kg) ngực (cm) 1 163 trở 50 trở lên 82 trở lên 155 trở lên 45 trở 76 trở lên lên lên 2 158-162 47-49 79-81 151-154 43-44 74-75 3 154-157 45-46 76-78 147-150 40-42 72-73 4 150-153 41-44 74-75 143-146 38-39 70-71 16 5 Dưới 150 Dưới 40 Dưới 74 Dưới 143 Dưới 38 Dưới 70 (Nguồn: Quyết định 1613/BYT-QĐ ngày 15/08/1997 của Bộ Y Tế) - Trí lực: Tiêu chí này được đánh giá qua các chỉ tiêu: trình độ học vấn & chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng mềm.