Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ BIỂU TƯỢNG VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN TUÂN 1. Khái lược về biểu tượng. Biểu tượng trong văn học đã được đề cập đến khá nhiều trong các tác phẩm phê bình văn học ở Việt Nam cũng như trên thế giới dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên “ tính chất đa nghĩa, trừu tượng, thậm chí là mơ hồ của các biểu tượng khiến cho việc phân tích và giải mã biểu tượng trong các tác phẩm văn học không dễ dàng đôi khi lâm vào tình trạng bế tắc, tạo nên những cuộc tranh luận liên miên về ý nghĩa của những biểu tượng” (Raymond Firth).
Để góp phần tháo gỡ những bế tắc nói trên, chỉ “một mình” phê bình văn học sẽ rất khó giải quyết được hết những “ đặc tính khó lường” của biểu tượng. Vì vậy,vấn đề giải mã biểu tượng cần có một cái nhìn tổng thể bao gồm cả văn học cũng như những ngành học thuật khác có liên quan như: logic học, ký hiệu học, nhân học. Một số quan niệm về biểu tượng 1. Biểu tượng dưới góc độ tâm lý, văn hóa Định nghĩa về biểu tượng, Từ điển tiếng Việt đã đưa ra ba nét nghĩa của biểu tượng trong đó có hai nét nghĩa liên quan đến biểu tượng trong văn học : (1) hình ảnh tượng trưng; (2) hình thức nhận thức cao hơn cảm giác cho ta hình ảnh của sự vật còn lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt.
Như vậy, ở nét nghĩa thứ nhất hình ảnh tượng trưng được hiểu là một sự vật cụ thể có hình thức hoặc tính chất thích hợp để gợi ra sự liên tưởng đến một cái trừu tượng nào đó. Còn nét nghĩa thứ hai được rút ra từ tâm lý học Macxit. Trong lý luận nhận thức, biểu tượng là hình thức cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính trực quan. Trên cơ sở cảm giác, tri giác trong óc con người xuất hiện một hình thức cao hơn đó là biểu tượng.
Nhưng biểu tượng 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trọng nhận thức cảm tính mới chỉ là biểu tượng ở mức độ thấp, giản đơn do tư duy trực quan hình ảnh đem lại. Còn một loại biểu tượng cao hơn hẳn đó là biểu tượng của tưởng tượng.Tâm lý học định nghĩa‘‘ Biểu tượng của tưởng tượng là hình ảnh mới được xây dựng từ những biểu tượng của trí nhớ, nó là biểu tượng của biểu tượng’’[ 15; 120]. Như vậy, biểu tượng chính là khâu liên kết các giai đoạn nhận thức của cảm giác trực quan với tư duy trừu trượng. Cùng với cảm giác, tri giác, biểu tượng đã tạo ra những tiền đề cơ sở cho giai đoạn nhận thức lý tính.
Nó góp phần quan trọng giúp con người nhận thức được những thuộc tính bản chất, tính quy luật của sự vật, đem lại hiểu biết sâu sắc hơn về sự vật. Trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, khái niệm biểu tượng được dùng với những biến đổi đáng kể về ý nghĩa và được chú ý với ý nghĩa tượng trưng. Theo Pierre Emmanuel ‘‘ Vật ở đây không chỉ là một sinh thể hay một sự vật thực mà cả một khuynh hướng, một hình ảnh ám ảnh, một giấc mơ, một hệ thống định đề được ưu tiên, một hệ thuật ngữ quen dùng … tất cả những gì cố định năng lượng tâm thần hay huy động năng lượng ấy vì lợi ích riêng của mình ” [7 ; 24]. Như vậy vật mang giá trị biểu trưng có thể là một vật cụ thể hoặc vật trừu tượng.
Jung lại cho rằng tất cả những biểu tượng của con người dù phong phú, đa dạng đến đâu, đi đến tận cùng đều có cấu trúc là những Mẫu gốc. Mẫu gốc là những vết tích tâm lý hình thành từ thời nguyên thủy, di truyền theo loài và tạo thành những cấu trúc tâm thần phổ biến của loài người. Biểu tượng mẫu gốc, do đó nối liền cái phổ quát với cái cá thể. Jung đã đưa ra định nghĩa nêu bật được những đặc tính, những giá trị cơ bản của biểu tượng ‘‘Biểu tượng là hình ảnh thích hợp chỉ ra cái đúng hơn cả cái bản chất ta mơ hồ, nghi hoặc của tâm linh … biểu tượng không bó chặt gì hết, nó không cắt nghĩa, nó đưa ta ra bên ngoài chính nó đến một ý nghĩa còn nằm ở tận phía 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xa kia, không thể nắm bắt được dự cảm một cách mơ hồ, và không có từ nào trong ngôn ngữ của chúng ta có thể diễn đạt thỏa đáng ’’ [7 ; 24].
Nói đến tính chất sống động, khả năng đánh thức những sức mạnh tâm linh con người của biểu tượng, Jung cho rằng biểu tượng sống là ‘‘biểu hiện tuyệt đỉnh của cái được dự cảm nhưng còn chưa nhận ra được và nó giục gọi vô thức tham gia, nó đẻ ra sự sống và kích thích sự sống’’ Vì vậy, biểu tượng có thể tạo nên những âm vang đồng vọng sâu xa trong con người, cuốn con người tham gia cùng nó trong quá trình sản sinh ý nghĩa. Tuy nhiên tính chất này của biểu tượng phụ thuộc nhiều vào chủ thể tiếp nhận sự cảm thụ đòi hỏi ở con người một thái độ nhập cuộc thực sự để tham gia vào biểu tưởng bằng tất cả tâm hồn mình. Mặt khác mỗi biểu tượng lại có thể xem như một vũ trụ tinh thần thu nhỏ với quy luật riêng, tọa độ riêng của nó. Do đó để nắm bắt biểu tượng cần phải đặt nó vào “ dung môi’’ nuôi sống nó, tìm ra cái tọa độ mà nó tồn tại.
Các nhà văn hóa học cũng đãphân biệt rạch ròi giữa các hình ảnh tượng trưng với tất cả các lối diễn đạt bằng hình ảnh khác như: biểu hiện, loại suy, triệu chứng, ngụ ngôn, dụ ngôn.thậm chí cả ẩn dụ, phúng dụ.mà họ gọi chung là những dấu hiệu không vượt quá mức độ của sự biểu nghĩa, đồng thời họ cũng chỉ ra một số đặc trưng cơ bản của biểu tượng như sau: Biểu tượng cơ bản khác với dấu hiệu ở chỗ: Dấu hiệu là một quy ước tùy tiện trong đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt vẫn xa lạ với nhau; trong khi biểu tượng giả định có sự đồng nhất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt nhờ sự dẫn dắt của trí tưởng tượng. Trí tưởng tượng là sức mạnh năng động làm biến dạng các sao chép thực dụng do tri giác cung cấp và cải tạo các hình ảnh của cảm giác, tri giác nhằm tạo ra cái mới. Có thể nói, biểu tượng luôn rộng lớn hơn cái ý nghĩa được gán cho nó một cách nhân tạo, nó có một sức vang cốt yếu và tự sinh. Nó không dừng lại ở chỗ chỉ tạo nên những cộng hưởng mà còn giục gọi một sự biến đổi trong chiều sâu tư tưởng.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mặt khác, biểu tượng luôn được so sánh với các dạng thức gây xúc cảm, có tính chức năng, có tính động lực. Đặc tính của biểu tượng là mãi mãi gợi cảm đến bất tận. Mỗi con người sẽ thấy ở biểu tượng cái mà năng lực thị giác của mình khó mà nhận ra. Thiếu sự am hiểu, nhạy bén sẽ không nhận thức được biểu tượng, cho nên, việc tiếp nhận biểu tượng đòi hỏi một thái độ nhập cuộc, một sự trải nghiệm sâu sắc chứ không phải một lối khái niệm hóa.
Mỗi nhóm người, mỗi thời đại lại có những biểu tượng khác nhau. Rung động trước biểu tượng đó tức là tham gia vào nhóm người, thời đại ấy. Theo Từ điển triết học (NXB Sự Thật -1972) do M. Iudin chủ biên thì khái niệm biểu tượng được hiểu là : ‘ Hình ảnh cảm tính cụ thể về những hiện tượng của thế giới bên ngoài.
Biểu tượng cùng những cảm giác và tri giác tạo nên nhậ thức cảm tính. Biểu tượng khác ở hai điểm đặc điểm: Tri giác phản ánh một sự thật riêng lẻ tác động vào giác quan của chúng ta trong những trường hợp cụ thể nhất định. Biểu tượng là phản ánh khái quát hơn, trừu tượng hơn’’ Như vậy, theo triết học, biểu tượng là hình ảnh của sự vật lưu lại trong óc khi sự vật không còn tác động đến các giác quan nữa, hình thức cao nhất của sự phản ánh trực quan cảm tính xuất hiện trên cơ sở tri giác. Khác với tri giác Biểu tượng không còn phản ánh rời rạc các thuộc tính của sự vật, sự vật được phản ánh dưới hình thức biểu tượng có tính chính thể.
Biểu tượng là hình ảnh về vật trong đầu óc, ý thức tư duy của con người. Nhưng biểu tượng ở con người khác với ở động vật thường được bọc bằng một lớp vỏ ngôn ngữ và chứa nhiều yếu tố của sự phản ánh khái quát. Biểu tượng là khâu trung gian giữa giai đoạn nhận thức cảm tính và giai đoạn nhận thức lý tính. Trong Từ điển Bách khoa toàn thư, phần Mỹ thuật và Sân khấu lại hiểu biểu tượng là phương tiện sáng tạo mang ý nghĩa trừu tượng khái quát.
Biểu tượng tác động chủ yếu đến cảm xúc của người xem. Biểu tượng còn được coi như một thủ pháp sáng tạo nghệ thuật, trực giác của người nghệ sĩ có 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vai trò rất quan trọng trong quá trình nhận thức một biểu tượng ; tùy thuộc những nhận thức khác nhau về biểu tượng người ta có thể có những cảm xúc khác nhau. Như vậy, nhìn từ góc độ tâm lý, văn hóa, khái niệm biểu tượng được xác định với nhiều tầng nghĩa. Ngoài ý nghĩa miêu tả hình ảnh, cảm tính vật chất khách quan của hiện thực khách quan và ý nghĩa tượng trưng khái quát, nó còn biểu hiện chiều sâu cảm xúc của mỗi con người.
Biểu tượng dưới góc độ văn học Trong văn học, khái niệm biểu tượng cũng được xem xét từ nhiều khía cạnh, nhưng chủ yếu ở giá trị khái quát, tượng trưng. Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa biểu tượng như sau: Trong nghĩa rộng, biểu tượng thể hiện đặc trưng ‘‘phản ánh cuộc sống bằng hình tượng văn học nghệ thuật’’. Văn học nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, phản ánh cả thế giới khách quan theo những nguyên tắc, phương thức, phương tiện riêng. Hình tượng - phương tiện phản ánh đời sống của văn học nghệ thuật vừa là sự tái hiện thế giới đòng thời cũng là hiện tượng đầy tính ước lệ.
Các tác giả đã lý giải: ‘‘ Bằng hình tượng nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng ’’. Như vậy, trong nghĩa rộng, khái niệm biểu tượng gần gũi với tính ước lệ trong văn học nghệ thuật.