Chương 1: Lý luận về tổ chức KH&CN và văn hoá quản lý 1.Lý luận về tổ chức KH&CN 1. Khái niệm tổ chức KH&CN 1. Phân loại và đặc trƣng của tổ chức KH&CN 1. Lý luận chung về văn hoá quản lý 1.
Khái niệm văn hoá và văn hoá quản lý 1. Các thành tố cấu thành văn hoá quản lý 1. Các yếu tố ảnh hƣởng tới quá trình hình thành văn hoá quản lý 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2. Những đặc trưng cơ bản của văn hoá quản lý trong các tổ chức khoa học và công nghệ 2.Lịch sử hình thành và đặc điểm của hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ của Việt Nam.
Từ triết lý quản lý đến các biểu hiện cụ thể Chương 3: Nhận dạng văn hoá quản lý của Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội với tư cách là một tổ chức KH&CN 3. Những đặc trƣng của Văn hoá quản lý 3. Các yếu tố ảnh hƣởng tới quá trình hình thành văn hoá quản lý của trƣờng Đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của tổ chức KH&CN thông qua phát triển văn hoá quản lý trong quá trình hội nhập quốc tế. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ VĂN HÓA QUẢN LÝ 1.Lý luận về tổ chức KH&CN 1.
Khái niệm tổ chức KH&CN Khái niệm Tổ chức: Có nhiều định nghĩa khác nhau về danh từ “Tổ chức”. Trƣớc hết, ta phải kể đến một định nghĩa mang tính triết học sâu sắc: “Tổ chức nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật. Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung. Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật” [2, tr.
Định nghĩa này bao quát cả phần tự nhiên và xã hội loài ngƣời. Theo ngôn ngữ thông thƣờng, tổ chức thƣờng đƣợc định nghĩa nhƣ là tập hợp của nhiều ngƣời, nhiều nhóm ngƣời cùng hoạt động trong những hình thái cơ cấu nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu chung mà nếu chỉ một ngƣời hay một nhóm ngƣời thì không thể thực hiện đƣợc. Với cách định nghĩa đơn giản nhƣ vậy, thì các tổ chức rõ ràng rất đa dạng và khác nhau về mục đích tồn tại và phƣơng thức hoạt động. Tuy nhiên, mọi tổ chức là một thực thể xã hội do các cá nhân hoặc các nhóm kết hợp để thực hiện mục tiêu chung đều có những đặc trƣng cơ bản sau: + Tổ chức đƣợc tạo ra nhằm thực hiện các mục tiêu chung của cộng đồng.
Nghĩa là các tổ chức phải phục vụ cho các mục tiêu xác định chứ không thể tùy ý hành động. Ngay cả các công ty tƣ nhân, các tập đoàn đa quốc gia, mục tiêu của nó là tổ hợp nhiều mục tiêu hợp thành nhƣng vẫn phải chịu sự chi phối của các quy luật xã hội, thống nhất với mục đích chung của toàn thể cộng đồng, chịu trách nhiệm xã hội với hoạt động của mình. + Có cơ cấu tổ chức, phân công lao động. Nghĩa là mọi ngƣời tham gia vào tổ chức đƣợc phân công vào những vị trí, bộ phận khác nhau đảm nhận các chức năng khác nhau phù hợp với yêu cầu của tổ chức, trình độ và năng lực cá nhân.
Tổ chức càng phát triển thì phân công lao động càng triệt để. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Có một ban quản lý. Ban quản lý có bổn phận đại diện cho công đồng với công việc trong và ngoài tổ chức. Ban quản lý chịu trách nhiệm đảm bảo sự điều phối và thực hiện mục tiêu của tổ chức.
+ Môi trƣờng của tổ chức: Tổ chức gắn chặt các hệ thống kinh tế xã hội nơi nó đang tồn tại, mục tiêu của tổ chức có thực hiện đƣợc hay không còn tùy thuộc vào hệ thống kinh tế xã hội mà ta gọi là môi trƣờng của tổ chức. Trong xã hội hiện đại, các tổ chức đang tồn tại thật vô cùng đa dạng và phong phú. Chúng có thể khác nhau khi trả lời các câu hỏi: Ai nắm quyền sở hữu tổ chức? Tổ chức đƣợc tạo nên vì mục đích của tổ chức là gì? Các mối quan hệ trong tổ chức có thể hiện rõ ràng hay không? Dẫn đến việc phân loại các tổ chức có nhiều quan điểm khác, và dẫn tới sự thành của nhiều tổ chức mới. Gabriel (1976) trong tác phẩm Tổ chức và chuyển đổi xã hội đã viết "Tổ chức là một sản phẩm của quá trình chuyển đổi xã hội – nếu xét về sự mở rộng về số lƣợng và cơ cấu chất lƣợng – và có thể đƣợc coi là một đại lƣợng quan trọng của sự chuyển đổi xã hội".
Sự tiến hóa và phát triển của tổ chức luôn gắn liền với những biến đổi của trật tự kinh tế xã hội và tác động vào quá trình hình thành của chính trật tự đó. Nhìn vào lịch sử, sự tiến triển của tổ chức gắn với quá trình công nghiệp hóa tạo ra những biến đổi sâu sắc của xã hội trên phạm vi toàn cầu. Hình thành các tổ chức mới nhƣ nhà máy công nghiệp, tập đoàn đa quốc gia, các tổ chức phi chính phủ,. Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học và công nghệ, khiến các tổ chức khoa học và công nghệ ngày càng hiện rõ hơn, thành một loại hình tổ chức đƣợc gọi tên chính thức trong hệ thống các tổ chức, thậm chí ở các nƣớc đang phát triển.
Nghiên cứu và nhận thức về tổ chức khoa học và công nghệ sẽ giúp ta nắm bắt và phát huy đƣợc những điểm mạnh của tổ chức trong lĩnh vực này. Vậy tổ chức khoa học và công nghệ là gi? Trƣớc hết, ta cần hiểu về hoạt động Khoa học và công nghệ. Hoạt động Khoa học và công nghệ. Francis Bacon, triết gia lớn ngƣời Anh đã từng tiên đoán: "Khoa học là sức mạnh".
Lời tiên đoán đó đã đƣợc thể nghiệm trong đời sống của khoa học trong xã hội đƣơng đại, nhất là từ khi cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu bùng nổ với những thành tựu của nền cơ học cổ điển. Tiếp đó những cuộc cách mạng công nghệ liên tục xuất hiện trong lịch sử. Khoa học và công nghệ ngày càng chứng tỏ sức mạnh vƣợt 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qua những câu chuyện trong các tiểu thuyết viễn tƣởng và ngay cả sức tƣởng tƣợng của những nhà khoa học tài ba nhất. Hoạt động nghiên cứu khoa học làm phát triển kho tàng tri thức của nhân loại, đặt nền tảng cho sự phát triển của những nguyên lý công nghệ.
Đến lƣợt công nghệ lại đóng vai trò thúc đẩy sản xuất phát triển, đem lại những tác động sâu xa đến những biến đổi trong cơ cấu xã hội, trong truyền thống văn hóa. Trong gần 3 thập niên qua, nhiều cải cách trong lĩnh vực KH&CN bắt nguồn từ thực tế của nền kinh tế và xã hội nƣớc ta, đã đƣợc thực hiện. Hoạt động KH&CN đã trở thành một sự nghiệp mà mọi công dân và tổ chức, mọi thành phần kinh tế đều có quyền tham gia. Về bản chất, hoạt động này bao gồm "hoạt động khoa học" và "hoạt động công nghệ".
Nhƣ vậy, xác định đƣợc đúng nội dung của "hoạt động khoa học" và "hoạt động công nghệ" có một ý nghĩa thiết thực rất lớn. Luật Khoa học và công nghệ năm 2000 đã xác định (Điều 2): Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. Nhƣ vậy khoa học là sản phẩm của con ngƣời trong hoạt động sản xuất tri thức. Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.
Định nghĩa này nhấn mạnh vào dạng thức cụ thể của công nghệ và/hoặc vật mang kiến thức công nghệ đó. Nhƣ vậy, hoạt động KH&CN bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN. Hoạt động KH&CN đề cập trong Luận văn này bao gồm các hoạt động KH&CN nêu trong Điều 2, điểm 3 của Luật KH&CN năm 2000, cụ thể: - Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tƣợng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tƣ duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng; 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới.
Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm; - Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới; Mục tiêu của hoạt động khoa học và công nghệ là xây dựng nền khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lƣợng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trƣờng; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con ngƣời mới Việt Nam; góp phần phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh.