Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền Chương 2: Thực trạng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và phương hướng giải pháp tăng cường hiệu lực kiểm soát quyền lực nhà nước. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC TRONG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN 1. Kiểm soát quyền lực là biểu hiện cơ bản của nhà nƣớc pháp quyền 1. Khái niệm nhà nước pháp quyền Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền luôn gắn liền với tư tưởng phát triển dân chủ đã hình thành ngay từ thời cổ đại, thể hiện trong quan điểm của các nhà tư tưởng của thời cổ đại như Xôcrat (469-399 Tr.CN), Arixtốt (384-322 Tr.CN), Xixêrôn (l06-43 Tr.
Những tư tưởng này đã được các nhà tư tưởng chính trị và pháp lý tư bản sau này như John Locke (1632 -1704), Montesquieu (1698 -1755), J. Hiện nay, trong lý luận có nhiều quan điểm cách tiếp cận khác nhau về khái niệm và các yếu tố cơ bản của nhà nước pháp quyền. Cụ thể các quan điểm thường nhấn mạnh đến một trong những yếu tố cơ bản sau đây của nhà nước pháp quyền: tính tối cao của luật, nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của chính nhà nước, cơ chế phân chia quyền lực, kìm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lực: Lập pháp, Hành pháp, tư pháp, dân chủ, xã hội công dân, quyền con người.TS Hoàng Thị Kim Quế Nhà nước pháp quyền được định nghĩa như sau: Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước với sự phân công lao động khoa học hợp lí giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp có cơ chế kiểm soát quyền lực, nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, pháp luật có tính khách quan, nhân đạo, công bằng, tất cả vì lợi ích chính đáng của con người [14, tr. Những giá trị phổ biến của Nhà nƣớc pháp quyền Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền dựa trên nền tảng của chủ nghĩa lập hiến.
Sự hiện diện của Hiến pháp được coi là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của nền dân 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chủ và Nhà nước pháp quyền, bởi vì Hiến pháp thể hiện ý chí của mình, là cơ sở bảo đảm tính hợp pháp của nhà nước. Hiến pháp là văn bản khế ước của nhân dân, được đa số nhân dân thông qua theo những trình tự đặc biệt. Như vậy, chủ nghĩa lập hiến đồng nghĩa với việc coi nhân dân là nguồn gốc của quyền lực nhà nước, là chủ thể của quyền lực nhà nước. Làm theo Hiến pháp là tuân theo ý chí gốc rễ của chủ thể quyền lực, làm trái hoặc khác với Hiến pháp là xâm phạm chủ quyền của nhân dân.
Nhà nước pháp quyền trước hết là nhà nước được tạo nên bằng ý chí chung của nhân dân, nhằm bảo vệ tự do tài sản của mỗi thành viên của nó. Mỗi thành viên tuân thủ ý chí chung (được nhà nước thể hóa thành pháp luật) cũng tức là tuân thủ ý chí của riêng mình mà vẫn tự do. Quá trình chuyển nhà nước từ cá nhân vua chúa, từ ý chí tối cao thành nhà nước của nhân dân trở thành quá trình xóa bỏ các chế độ độc đoán, chuyên quyền và tách nhà nước ra khỏi sự nhà thờ, tách xã hội dân sự ra khỏi xã hội thần dân. Nhà nước không có mục đích tự thân nào, mà chỉ là công cụ phục vụ nhân dân, phục vụ yêu cầu phát triển của xã hội.
Nếu ở thời cổ đại, hình thức nhà nước hỗn hợp (kết hợp ba hình thức quân chủ, quý tộc và cộng hòa) được coi là thích hợp, thì ở thời cận đại và hiện đại hình thức cộng hòa dân chủ được coi là thích hợp và đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội. Sự ra đời của Nhà nước pháp quyền đồng thời phủ nhận nhà nước chuyên chế, cực quyền, độc quyền phát xít. Tiêu chí đầu tiên của một Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà toàn bộ quyền lực của nó thuộc về nhân dân và trở thành vấn đề mang tính pháp lý. Đây thực sự là một bước tiến lớn lao trong lịch sử chính trị của nhân loại.
Trong các nhà nước không pháp quyền, nhân dân không chỉ là chủ thể, mà chỉ là khách thể của quyền lực. Bởi vì, chỉ khi nào có quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì nhân dân mới có quyền kiểm tra và giám sát quyền lực đó. Hoặc nói khác đi, sở dĩ đặt ra vấn đề phải đặt nhà nước dưới sự giám sát của nhân dân vì đó là sự giám sát của người chủ quyền lực. Pháp luật không chỉ có mục đích tự thân mà chỉ là công cụ thực hiện quyền lực.
Do đó, nếu Chính phủ sai thì nhân dân phải có thái độ, kể cả thay đổi chính phủ, pháp luật không phù hợp với Hiến pháp thì phải đình chỉ hiệu lực thi hành. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ hai, pháp luật giữ vị trí chi phối và có hiệu lực pháp lý tối thượng trong xã hội, Nhà nước cũng phải chịu sự ràng buộc của pháp luật. Với sự ra đời của học thuyết Nhà nước pháp quyền, mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật đã có sự thay đổi căn bản. Pháp luật do nhà nước ban hành giữ vị trí và có hiệu lực thống trị không chỉ đối với xã hội mà còn đối với cả nhà nước.
Đây là sự kết hợp giữa tổ chức quyền lực của xã hội và giai cấp cầm quyền với hệ thống các quy tắc ứng xử trong xã hội thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, với công lý và công bằng. Quyền lực nhà nước không chỉ dựa trên công bằng thì chỉ là bạo lực thô bạo. Công lý và lẽ phải mà không có sự đảm bảo của quyền lực nhà nước thì bất lực. Nhà nước ban hành pháp luật không chỉ để tổ chức và quản lý xã hội mà còn để tổ chức và quản lý bản thân mình.
Pháp luật trở thành công cụ chế ước, quy định kiểm tra, giám sát tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước. Nhà nước pháp quyền tự đặt mình dưới pháp luật, chứ không đứng trên và đứng ngoài pháp luật. Pháp luật không chỉ là công cụ để duy trì và phát triển xã hội mà còn là công cụ duy trì sự tồn tại của chính Nhà nước. Chức năng, quyền hạn của nhà nước chỉ nằm trong khuôn khổ pháp quyền.
Đặt mình trong chế độ pháp quyền, nhà nước là mạnh nhất, ngoài lĩnh vực pháp quyền, nhà nước luôn luôn nằm trong nguy cơ của sự chuyên quyền và mất dân chủ. Nhà nước pháp quyền là nhà nước được xây dựng trên cơ sở lý trí, hợp hiến, hợp pháp và chế độ trách nhiệm pháp lý. Trong Nhà nước pháp quyền, viên chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, còn công dân lại được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm. Vượt quá giới hạn cho phép, nhà nước sẽ thoái hóa, biến chất.
Với nguyên tắc pháp luật chi phối, mối quan hệ giữa công dân và nhà nước cũng có sự thay đổi. Nhà nước và công dân đều có quyền hạn và nghĩa vụ trước pháp luật. Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền là ý chí, nguyện vọng, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân được luật hóa, là tiếng nói của công lý và lý trí. Pháp luật là một thực thể hay một đại lượng chung có tính phổ biến bảo đảm sự tự do và bình đẳng của mọi thành viên trong xã hội.
Trong quy phạm của xã hội là tính tất yếu được hình thành qua vô số ngẫu nhiên. Pháp luật chứa đựng những giá trị ổn định, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuẩn mực hóa những quan hệ xã hội và có các chức năng đặc biệt tổ chức, bảo vệ, trọng tài. Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật là quản lý bằng ý chí phổ biến của nhân dân được thể chế hóa, chứ không phải bằng chỉ lệnh, luật lệnh của cá nhân tùy tiện. Nhờ pháp luật mà cái vốn là của một giai cấp trờ thành của một toàn xã hội.
Nhà nước và công dân đều tuân thủ pháp luật có nghĩa là cũng tuân theo những quy tắc đã đặt ra. Pháp luật trong nhà nước pháp quyền là ý chí của nhân dân được thể chế hóa là một tiến bộ lịch sử. Nó đề cao giá trị của con người trong mối quan hệ với nhà nước. Về hình thức, pháp luật trong nhà nước pháp quyền chi phối toàn bộ hoạt động của xã hội và nhà nước.
Về nội dung, pháp luật thể hiện và đáp ứng nhu cầu khách quan của xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển. Về cấu trúc, pháp luật trong Nhà nước pháp quyền là một thể thống nhất và có thứ bậc, trong đó Hiến pháp giữ vị trí cao nhất chi phối toàn bộ các đạo luật và các quy định dưới luật. Quản lý xã hội bằng pháp luật và nhà nước tự đặt mình dưới pháp luật là một tiến bộ, một giá trị xã hội. Với nguyên tắc pháp luật thống trị, tính ổn định về tổ chức và hoạt động của nhà nước được duy trì, tính thống nhất, hiệu lực và hiệu quả của các chính sách được bảo đảm, quan hệ nhà nước - công dân chuyển từ quan hệ quyền lực sang quan hệ pháp lý, nhà nước ban hành luật, nhưng sau khi luật được ban hành thì chính nhà nước cũng phải chịu sự điều chỉnh của đạo luật đó.
Đó là quan niệm có tính nền tảng của học thuyết về Nha nước pháp quyền. Quan niệm cho rằng bản thân nhà nước cũng phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật có rất nhiều yêu cầu nhưng về cơ bản có thể tóm tắt lại rằng, Nhà nước pháp quyền là tính tối tối cao của pháp luật, nó là tối thượng đối với mọi người, kể cả các quan chức, người lãnh đạo. Tuy nhiên, quan điểm đặt nhà nước và các quan chức của nhà nước dưới sự điều chỉnh của pháp luật sẽ không có ý nghĩa nếu không có cách thức gì để kiểm tra tính hợp pháp và sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động của các cơ quan và viên chức nhà nước. Chính vì vậy, cơ chế bảo hiểm đã ra đời, các cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước đã được thiết kế và áp dụng đối với tất cả các nhánh quyền lực.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ ba, bảo đảm nguyên tắc phân quyền và yêu cầu về sự độc lập của tư pháp.