Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự 1. Tranh tụng trong tố tụng dân sự Đối với việc nghiên cứu đề tài nguyên tắc tranh tụng trong TTDS Việt Nam thì khái niệm tranh tụng trong TTDS là một vấn đề hết sức quan trọng, khái niệm này giúp hiểu đúng và đầy đủ về nguyên tắc tranh tụng trong TTDS. Theo các nhà nghiên cứu, tố tụng tranh tụng xuất hiện sớm nhất ở Châu Âu, cùng với sự xuất hiện của Tòa án nhà nước.
Loại hình tố tụng này được áp dụng tại Hy Lạp cổ đại, sau đó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục”[10, tr. Cùng với thời gian, tranh tụng tiếp tục được kế thừa, phát triển và cho đến nay nó được áp dụng ở hầu hết các nước thuộc hệ thống luật lục địa cũng như hệ thống luật án lệ. Ở Việt Nam, hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này. Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Hán - Việt tự điển thì tranh tụng có nghĩa là “cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải”[12, tr.621]; theo Đại từ điển tiếng Việt thì tranh tụng có nghĩa là “kiện tụng”[26, tr.1686], đây có thể coi là những cách hiểu chung nhất về “từ ngữ” tranh tụng.
Tại Từ điển luật học thì tranh tụng được hiểu như sau: “Tranh tụng là hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng, có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập”[30, tr. Cách hiểu này đã thể hiện được một số đặc trưng của tranh tụng như: “là hoạt động tố tụng của các bên tham gia tố tụng”; “có quyền bình đẳng với nhau. để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập”. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa phân biệt được hoạt động tranh tụng với 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những hoạt động tố tụng khác và cũng thiếu đi vai trò rất quan trọng của một chủ thể là Tòa án.
Xung quanh khái niệm tranh tụng trong TTDS còn có nhiều quan điểm khác, ví dụ như: Quan điểm thứ nhất cho rằng: “tranh tụng trong TTDS được hiểu là một phương thức tố tụng để đương sự bảo vệ quyền lợi của mình, toà án xác định sự thật khách quan của vụ án”[7]. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Tranh tụng là việc các bên đương sự đưa ra các chứng cứ, các căn cứ pháp lý, lập luận, tranh luận, đối đáp với nhau nhằm bảo vệ quyền lợi của mình và Tòa án chủ yếu dựa trên kết quả tranh tụng giữa các bên để ra phán quyết giải quyết vụ án, vụ việc dân sự”[30, tr. Quan điểm thứ ba cho rằng: “Theo nghĩa rộng, tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Quá trình tranh tụng này không chỉ bao gồm các giai đoạn khởi kiện, chuẩn bị xét xử, thu thập, trao đổi chứng cứ, tài liệu, quan điểm về việc giải quyết vụ án, đối chất giữa các bên đương sự, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm mà cả giai đoạn xét xử theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm.
Thậm chí quá trình tranh tụng có thể được tiến hành lại từ giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trong trường hợp khi bản án, quyết định về vụ án bị Tòa án cấp trên hủy để tiến hành xét xử lại. Theo nghĩa hẹp, quá trình tranh tụng được tiến hành tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, theo đó các bên đương sự dưới sự điều khiển của Hội đồng xét xử trực tiếp trình bày yêu cầu, chứng cứ, tranh luận và đối đáp với nhau về chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ, lập luận để chứng minh rằng yêu cầu, phản yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình đối với đương sự phía bên kia là có căn cứ và hợp pháp. Trên cơ sở kết quả tranh tụng của các bên đương sự, Hội đồng xét xử ra phán quyết về việc giải quyết vụ án dân sự”[27, tr. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiên cứu các quan điểm nêu trên, nếu hiểu tranh tụng trong TTDS như quan điểm thứ nhất thì chưa cụ thể vì mới chỉ coi tranh tụng là một phương thức (hay phương pháp) tố tụng để đương sự bảo vệ quyền lợi của mình; Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án, theo cách hiểu này thì chưa xác định được những đặc điểm của tranh tụng để phân biệt với các phương pháp tố tụng khác.
Đối với quan điểm thứ hai, đã chỉ ra được những đặc điểm của tranh tụng nhưng lại không nêu được bản chất của tranh tụng, đó là tranh tụng chỉ diễn ra trong quá trình giải quyết vụ án dân sự chứ không có trong quá trình giải quyết việc dân sự; hoạt động tranh tụng phải được chứng kiến, ghi nhận bởi Tòa án. Đối với quan điểm thứ ba, đã đưa ra hai góc nhìn khác nhau về tranh tụng theo nghĩa “rộng” và “hẹp”. Tuy nhiên, tranh tụng không đồng nghĩa với quá trình giải quyết vụ án mà là hoạt động được diễn ra trong quá trình đó. Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa tranh tụng trong TTDS như sau: “Tranh tụng trong TTDS là phương pháp giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án, diễn ra trong quá trình tố tụng, theo đó các bên đương sự xuất trình, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của mình; phản bác yêu cầu đối lập trước Tòa án và kết quả của quá trình này được Tòa án sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án”.
Cũng cần phải phân biệt giữa tranh tụng và tranh luận. Tranh luận có xuất phát điểm từ tranh chấp, mâu thuẫn, tranh luận là cốt lõi và sự biểu hiện tập trung của tranh tụng, nếu không có tranh luận thì sẽ không có tranh tụng hoặc tranh tụng sẽ không được biểu hiện rõ nét nhưng tranh luận chưa phải là tranh tụng. Tranh tụng là một tổng thể gồm cả tranh luận và quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ; quyền được biết chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý áp dụng của phía đối lập, quyền được hỏi những người tham gia tố tụng khác. để bảo đảm cho việc tranh luận.
Như vậy, trong một số trường hợp (như thủ tục giải quyết việc dân sự, giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng.) vì không có tranh chấp giữa các bên đương sự với nhau nên không có quá trình tranh tụng. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, hai loại chủ thể có liên quan chủ yếu tới việc thực hiện và bảo đảm thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong TTDS Việt Nam là đương sự (chủ thể tham gia tranh tụng) và Tòa án (chủ thể bảo đảm tranh tụng). Chủ thể tham gia tranh tụng được hiểu là những chủ thể mang quyền, nghĩa vụ tố tụng, tham gia vào quá trình tranh tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án. Do đó, quá trình tranh tụng luôn có sự tham gia của hai bên đương sự, là những chủ thể tranh tụng giữ vai trò chủ động, quyết định kết quả tranh tụng.
Bởi vì, họ tham gia tranh tụng xuất phát từ chính yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích của họ trong vụ án, kết quả tranh tụng ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích của bản thân các đương sự. Hơn nữa, các vụ án dân sự chủ yếu phát sinh do có sự tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các đương sự. Do đó, việc xác định quyền và nghĩa vụ đó có tồn tại hay không phải thuộc về các đương sự, người biết rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh ra tranh chấp vì nó không chỉ là con đường ngắn nhất để biết rõ sự thật, mà còn làm các bên thỏa mãn hơn với kết quả được xác lập lại theo đúng quy định của pháp luật. Đương sự trong vụ án dân sự gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng chủ thể tranh tụng trước hết và chủ yếu là nguyên đơn và bị đơn.
Họ là những chủ thể có mâu thuẫn về quyền và lợi ích, họ đứng ở vị trí tố tụng đối lập nhau. Trong suốt quá trình tranh tụng, nguyên đơn và bị đơn bình đẳng với nhau và liên tục trao đổi với nhau những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho quyền lợi hợp pháp của mình trước Toà án trên cơ sở các quy định của pháp luật TTDS. Ngoài nguyên đơn và bị đơn, tham gia vào quá trình tranh tụng còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong trường hợp này họ cũng được coi là chủ thể tranh tụng, bởi họ cũng có lợi ích liên quan đến vụ án, tham gia tranh tụng để bảo vệ quyền lợi của mình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng có quyền đưa ra yêu cầu, phản đối yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Do vậy, họ cũng được đưa ra chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ và lập luận để chứng minh cho yêu cầu của mình hay phản đối yêu cầu của các đương sự khác. Như vậy, có thể thấy đương sự là những chủ thể giữ vị trí và vai trò trung tâm trong quá trình tranh tụng. Tuy nhiên, trên thực tế có những đương sự không thể hoặc không có điều kiện thực hiện tốt nhất quyền tranh tụng của mình nên việc tranh tụng của các đương sự này do người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện.
Việc tham gia tranh tụng của người đại diện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự xuất phát từ quyền được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự chứ không phải xuất phát trực tiếp từ lợi ích của họ bởi họ không phải là các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật nội dung. Người đại diện của đương sự là người thay mặt cho đương sự tham gia vào quá trình tranh tụng với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự như bảo vệ quyền lợi cho chính mình. Người đại diện có quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự khi tham gia vào tranh tụng.