Chương 1: Những vấn vấn đề lý luận cơ bản về người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong tố tụng dân sự. Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong tố tụng dân sự. Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định về người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong TTDS Việt Nam và một số kiến nghị. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGƢỜI ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.
Khái niệm, đặc điểm và vị trí, vai trò của ngƣời đại diện theo ủy quyền trong TTDS 1. Khái niệm người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong TTDS Để tìm hiểu rõ khái niệm người đại diện theo ủy quyền trong TTDS thì trước hết phải làm rõ được khái niệm về đương sự được đại diện, bản chất của đại diện trong tố tụng dân sự. Từ đó đi sâu phân tích làm rõ về khái niệm về đại diện theo ủy quyền. Đây là phần định hướng tiên quyết để có thể nghiên cứu được các nội dung cơ bản nhất về đại diện theo ủy quyền của đương sự.
“Đương sự” là một khái niệm cơ bản khi tiếp cận dưới nhiều góc độ. Đã có nhiều khái niệm về đương sự được đưa ra nhưng theo Từ điển tiếng Việt thì “đương sự là người, là đối tượng trực tiếp của một việc đang giải quyết” [31, tr.346], còn theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt thì đương sự là người có liên quan trực tiếp đến một việc. Trong khoa học pháp lý thì đương sự được hiểu “là người có quyền, nghĩa vụ được giải quyết trong một việc khiếu nại hoặc một vụ án” [14, tr. Như vậy, đương sự là người có liên quan trực tiếp trong một vụ việc nào đó đang được đưa ra xem xét, giải quyết.
Nghĩa là các chủ thể được coi là đương sự phải là những chủ thể có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp với việc xem xét, giải quyết vụ việc đó. Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác không phải là đương sự trong vụ việc khi không có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp tới vụ việc cụ thể đang được giải quyết. Tùy từng vụ việc mà các chủ thể được xác định là đương sự là khác nhau. Yếu tố quyền, lợi ích là yếu tố chủ yếu để phân biệt đương sự với người đại diện của họ.
Về khái niệm đương sự trong TTDS, theo Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, đương sự được hiểu “là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩn h vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự” [48, 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mặt khác, xét về lý luận thì TTDS là trình tự, thủ tục giải quyết các tranh chấp, yêu cầu phát sinh trong lĩnh vực tư gồm có: Dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh - thương mại, lao động. Theo cuốn Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp thì "TTDS là trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét giải quyết vụ án và thi hành án dân sự" [53, tr. Như vậy, đương sự trong TTDS là chủ thể tham gia vào quá trình TA giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đang có tranh chấp hoặc cần phải xác định.
Theo quy định tại Điều 139 BLDS năm 2005, “Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện” [36, Điều 139]. Trong TTDS, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình các đượng sự thường tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ. Tuy vậy, trong một số trường hợp, người khác có thể thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ và từ đó đã hình thành quan hệ đại diện. Những người thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong các quan hệ pháp luật được gọi là người đại diện.
Khái niệm người đại diện của đương sự được TS Nguyễn Công Bình phân tích cụ thể trong Giáo trình Luật TTDS Việt Nam như sau “là người tham gia tố tụng thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự trước Tòa án” [48, tr. Như vậy, đại diện được hiểu là một quan hệ pháp luật, một mối liên hệ pháp lý. Đó là mối liên hệ giữa người đại diện với người được đại diên. Chủ thể của quan hệ đại diện bao gồm người đại diện và người được đại diện.
Người đại diện trong TTDS có thể tham gia tố tụng dựa trên những mối quan hệ pháp lý đã tồn tại trước đó như quan hệ đại diện của pháp nhân và người đứng đầu pháp nhân, giữa chủ hộ với các thành viên của hộ gia đình, tổ trưởng tổ hợp tác với tổ hợp tác; quan hệ giữa người đại diện, giám hộ với cá nhân không có năng lực hành vi dân sự… Người đại diện này cũng có thể tham gia tố tụng theo sự chỉ định của TA hoặc bằng chính sự ủy quyền của đương sự hay người đại diện hợp pháp của họ. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có nhiều lý do khác nhau để đương sự là cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, của hộ gia đình, tổ trưởng tổ hợp tác… không thể trực tiếp xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Pháp luật cho phép những chủ thể này có thể ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia giao dịch. Theo khoản 1 Điều 142 BLDS “Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện.
Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản” [36, Điều 142]. Vì vậy, xét về mặt bản chất pháp lý, trong TTDS, quan hệ ủy quyền được xác lập giữa người đại diện theo ủy quyền với đương sự và quan hệ giữa người đại diện theo ủy quyền với các cơ quan tố tụng trong phạm vi mà đương sự ủy quyền. Theo khoản 2 Điều 74 BLTTDS thì “Người đại diện theo uỷ quyền trong TTDS thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTDS theo nội dung văn bản uỷ quyền” [35]. Việc nghiên cứu cũng cho thấy tuy cùng là đại diện thay mặt đương sự theo sự ủy quyền nhưng người đại diện này cũng có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: Nếu nhìn nhận dưới góc độ phạm vi ủy quyền giữa người đại diện theo ủy quyền và đương sự TTDS thì người đại diện theo ủy quyền bao gồm người đại diện theo ủy quyền toàn bộ và đại diện theo ủy quyền một phần, theo đó, đương sự có thể ủy quyền cho người đại diện thực hiện toàn bộ hoặc chỉ một hay một vài công việc cụ thể trong suốt quá trình tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự.
Khi thực hiện ủy quyền toàn quyền, đồng nghĩa với việc người đại diện theo ủy quyền có các quyền và mang nghĩa vụ của đương sự khi tham gia tố tụng. Ngoài ra, nếu dựa vào chủ thể được đại diện có thể thì người đại diện theo ủy quyền có thể là người đại diện cho cá nhân và người đại diện cho cơ quan, tổ chức. Theo đó, người đại diện cho cá nhân là người được cá nhân uỷ quyền tham gia vào tố tụng dân, thay mặt cho cá nhân - một con người riêng biệt, cụ thể - thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân mà mình đại diện. Người đại diện cho cơ quan, tổ chức là người được cơ quan, tổ chức uỷ quyền tham gia vào TTDS, thay mặt cho cơ quan, tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức mà 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mình đại diện.
Nếu xét theo vị trí của người được đại diện thì người đại diện theo ủy quyền có thể bao gồm người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn và người đại diện theo ủy quyền cho người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan trong vụ án dân sự. Từ những luận giải trên và trên cơ sở kế thừa và phát triển các công trình nghiên cứu trước đây có thể đưa ra khái niệm đại diện theo ủy quyền trong TTDS như sau: Đại diện theo ủy quyền trong TTDS là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa bên đại diện và bên được đại diện thông qua văn bản ủy quyền, theo đó bên đại diện nhân danh và vì quyền lợi của bên được đại diện thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng trong phạm vi ủy quyền để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bên được đại diện. Đặc điểm của người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong TTDS Người đại diện theo ủy quyền của đương sự là người người tham gia tố tụng thay mặt đương sự nên mang đầy đủ đặc điểm chung về người tham gia tố tung, người đại diện của đương sự như chủ thể, mục đích đại diện…, cũng như mang quyền và nghĩa vụ của người được đại diện là đương sự trong vụ án dân sự. Tuy nhiên, do cơ sở pháp lý tham gia đại diện trong tố tụng là khác nhau nên người đại diện theo ủy quyền trong TTDS cũng có những đặc điểm riêng biệt nhất định.
Căn cứ vào những phân tích cũng như khái niệm ở mục trên có thể đưa ra những đặc điểm về người đại diện theo ủy quyền của đương sự như sau: - Thứ nhất, về mặt chủ thể thì thông thường người đại diện theo ủy quyền của đương sự phải là cá nhân có năng lực hành vi dân sự Bởi các cá nhân mới tự mình chủ động thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo sự ủy quyền của đương sự trong tố tụng được. Cá nhân phải là người có năng lực hành vi TTDS. Năng lực hành vi TTDS là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTDS. Năng lực hành vi TTDS có mối quan hệ mật thiết với năng lực hành vi dân sự.
Một chủ thể được xác định là có 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.