CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM VÀ HIỆU QUẢ TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG 1. Sự cần thiết sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả 1 Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là việc áp dụng các biện pháp quản lý và kỹ thuật nhằm giảm tổn thất, giảm mức tiêu thụ năng lượng của phương tiện, thiết bị mà vẫn bảo đảm nhu cầu, mục tiêu đặt ra đối với quá trình sản xuất và đời sống. Theo đó, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả có tác động trực tiếp đến giảm tiêu thụ năng lượng cuối cùng, thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng và đạt được các mục tiêu về khí hậu cũng như phát triển bền vững toàn cầu. Quá trình khai thác, chế biến vận chuyển từ năng lượng sơ cấp đến năng lượng cuối cùng kèm theo nhiều tổn hao (đối với năng lượng hóa thạch tổn hao này trong khoảng từ 50 đến 90% tùy thuộc dạng năng lượng và công nghệ khai thác, chế biến, vận chuyển).
Vì vậy, mỗi đơn vị năng lượng cuối cùng giảm được trong hoạt động hiệu quả năng lượng sẽ tiết kiệm được từ 2 đến gần 3 lần nguồn NLSC. Chi phí đầu tư khai thác, chế biến và vận chuyển năng lượng giảm, giảm lượng phát thải gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả đã trở thành quốc sách của các nước trên thế giới và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Sự cần thiết và tính cấp bách của vấn đề sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được luận giải thông qua ba nội dung cơ bản sau: - Nhu cầu năng lượng ngày càng tăng để đảm bảo tốc độ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống xã hội và các nhu cầu văn hoá, sinh hoạt khác; - Các nguồn tài nguyên năng lượng truyền thống đang cạn kiệt, chi phí đầu tư khai thác các nguồn năng lượng hóa thạch ngày càng gia tăng.
Việc khai thác các nguồn NLTT thay thế năng lượng truyền thống có giới hạn về đất đai, mặt nước, v. và chi phí đầu tư lớn, giá thành vẫn còn cao; - Sử dụng nhiên liệu hóa thạch quá mức có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinh thái dẫn đến suy thoái môi trường, làm trái đất nóng lên và gia tăng biến đổi khí hậu, nước biển dâng cùng với những thay đổi thời tiết cực đoan (nắng nóng kéo dài, sa mạc hoá, bão lũ, v. Bên cạnh đó, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cũng mang đến nhiều lợi ích khác nhau. 1 Theo Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả số 50/2010/QH12 4 Lợi ích đối với quốc gia Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả làm giảm tiêu thụ nguồn NLSC trực tiếp, đồng thời giảm đầu tư và mức độ khai thác các nguồn năng lượng hoá thạch, để dành cho các thế hệ mai sau.
Giảm mức tiêu thụ năng lượng đồng nghĩa với giảm ô nhiễm môi trường, giảm phát thải khí nhà kính, góp phần tạo môi trường sinh thái trong lành và nâng cao đời sống của nhân dân. Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một trong những yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng và phát triển bền vững. Lợi ích đối với doanh nghiệp Giảm chi phí sản xuất từ việc cắt giảm chi phí năng lượng. Giảm nhu cầu sử dụng năng lượng sẽ cho phép giảm đầu tư vào hệ thống năng lượng cơ sở.
Chi phí sử dụng năng lượng tiết kiệm được, có thể chuyển sang đầu tư vào các dự án nâng cao công suất, cải thiện chất lượng sản phẩm đầu ra, tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thương trường quốc tế. Cải thiện môi trường làm việc để nâng cao sức khỏe và an toàn cho nhân viên. Giảm lượng năng lượng tiêu thụ sẽ đồng nghĩa với việc giảm phát thải các chất thải năng lượng, các rác thải sau quá trình sản xuất. Lợi ích đối với cá nhân và hộ gia đình Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ mang lại lợi ích giảm chi phí sử dụng năng lượng trực tiếp và còn nâng cao nhận thức và ý thức hiệu quả năng lượng trong cộng đồng, tạp thói quen tiết kiệm năng lượng.
Lý thuyết thống kê và các chỉ tiêu sử dụng năng lượng 1. Lý thuyết thống kê Thống kê là phương pháp phân tích toán học sử dụng các mô hình, sự biểu diễn và tóm tắt định lượng cho một tập hợp dữ liệu thực nghiệm hoặc nghiên cứu thực tế nhất định nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và quyết định. Thống kê được chia làm hai lĩnh vực: thống kê mô tả và thống kê suy luận. Đối với mỗi lĩnh vực sẽ có chức năng riêng.
Xác định được mục đích thống kê là gì giúp chủ thể lựa chọn được cho mình phương pháp thực hiện, qua đó có thể đưa ra những đánh giá chính xác nhất khi thực hiện thống kê. Thống kê có vai trò rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu để có thể đưa ra những con số có ý nghĩa phân tích giúp cho các nhà phân tích thống kế có được những kết quả xác thực nhất để cải thiện các vấn đề liên quan đến đời sống xã hội. 5 Từ những hiện tượng trong đời sống, thông qua việc thống kê, các nhà phân tích, nghiên cứu có thể tạo ra các bảng biểu bao gồm số lượng, dữ liệu, biểu đồ thể hiện những thông tin quan trọng một cách ngắn gọn và dễ hiểu đối với mọi người. Kết quả của việc thống kê chính là căn cứ, là cơ sở cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, lãnh đạo nhà nước có thể đưa ra những quyết định ảnh hưởng đến tình hình chung đời sống xã hội của con người Thống kê sử dụng 4 phương pháp cơ bản: thu thập và xử lý số liệu, điều tra chọn mẫu, nghiên cứu mối liên hệ giữa các hiện tượng và dự đoán, cụ thể như sau: - Phương pháp thu thập và xử lý số liệu.
Đây là phương pháp được sử dụng trong trường hợp số liệu có sự hỗn độn, dữ liệu chưa đáp ứng được cho quá trình nghiên cứu. Chính vì thế cần tiến hành xử lý tổng hợp, trình bày, tính toán. Từ đó kết quả sẽ giúp khái khoát đặc trưng tổng thể. - Điều tra chọn mẫu là sử dụng phương pháp chỉ cần nghiên cứu một bộ phận của tổng thể mà có thể suy luận cho hiện tượng tổng quát mà vẫn đảm bảo độ tin cậy cho phép.
- Nghiên cứu mối liên hệ giữa các hiện tượng: phương pháp thống kê này hướng tới những mối liên hệ của các hiện tượng với nhau. - Dự đoán: Đây là phương pháp cần thiết và quan trọng trong hoạt động thống kê. Từ các phương pháp trên thu thập được các đặc trưng, số liệu,… có thể đưa ra những dự đoán. Về cơ bản cần có 5 bước khi thực hiện nghiên cứu thống kê, bao gồm: - Bước 1: Lập kế hoạch nghiên cứu thống kê.
Bao gồm việc tìm hiểu các số liệu để trả lời nghiên cứu bằng việc sử dụng các thông tin như: ước tính sơ lược của kết quả điều tra, các thuyết,…; - Bước 2: Thiết kế nghiên cứu thống kê. Nhằm ngăn sự ảnh hưởng của các biến gây nhiễu và phân bố mẫu ngẫu nhiên của hệ số đáng tin cậy cho các đối tượng; - Bước 3: Kiểm tra các nghiên cứu sau các giao thức thử nghiệm và phân tích; - Bước 4: Kiểm tra thêm các dữ liệu thiết lập trong phân tích thứ cấp, đề xuất giả thuyết mới cho nghiên cứu; - Bước 5: Tìm kiếm tài liệu và trình bày kết quả nghiên cứu. Các chỉ tiêu sử dụng năng lượng Các chỉ tiêu sử dụng năng lượng ở cấp tỉnh/thành phố có nhiều điểm tương đồng với các chỉ tiêu sử dụng năng lượng ở cấp quốc gia. Nhu cầu năng lượng là lượng năng lượng mà người tiêu thụ mong muốn và có khả năng thanh toán.
Nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế xã hội được thể hiện ở dạng năng lượng hữu ích và được cung cấp thông qua thiết bị sử dụng năng lượng cuối cùng khác nhau. Cùng một nhu cầu năng lượng hữu ích như nhau có thể được đáp ứng bằng các lựa chọn năng lượng cuối cùng hoặc thiết bị khác nhau. Dầu và than quy đổi (tương đương) TOE, TCE: Yêu cầu tổng hợp và phân tích nhiều loại nhiên liệu khác nhau trong thực tế cũng như nghiên cứu, đòi hỏi việc chuyển các dạng nhiêu liệu với đơn vị đo khác nhau về cùng một đơn vị đo. Đơn vị đo TOE, TCE được gọi là tấn dầu, tấn than quy đổi (hoặc tương đương).
Giá trị của TOE và TCE được hầu hết các quốc gia thống nhất quy ước bằng một tấn dầu thô hoặc một tấn than có nhiệt trị thấp tương đương như sau: 1 TOE = 10 Gcal T TCE = 7 Gcal Trong thống kê năng lượng của nhiều quốc gia và nhiều tổ chức năng lượng quốc tế như IEA (International Energy Agency), APERC (Asia Pacific Energy Research Centre), SOUNS (Statistical Office of the United Nation Secretariat) …, đơn vị tính bằng TOE được sử dụng làm đơn vị đo năng lượng phổ biến. Cường độ năng lượng EI (Energy Intensity): Cường độ năng lượng của quốc gia, ngành hoặc khu vực là tỷ số giữa tổng năng lượng quốc gia (ngành, khu vực) 3 với biến kinh tế có liên quan như GDP (đối với quốc gia), VA (ngành), GRDP (tỉnh/thành phố)… = = ( /$) ∑ Trong đó: EI: Cường độ năng lượng (quốc gia, ngành) (TOE/$ hoặc TOE/VNĐ…) EC: Tiêu thụ năng lượng quốc gia, ngành, khu vực… (TOE) ECi: Tiêu thụ năng lượng của từng ngành, khu vực (i) trong nền kinh tế I: Biến kinh tế có liên quan như GDP, VA, GRDP, GDP/người… ($ hoặc VNĐ) được chọn phù hợp với phạm vi tính toán cường độ năng lượng 2 Tham khảo và trích “TS. Phan Diệu Hương, Phân tích và dự báo nhu cầu năng lượng, NXB Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội, 2015” 3 VA: Value added – Giá trị gia tăng của ngành 7 Cường độ năng lượng quốc gia cho biết để có 1 đơn vị GDP cần tiêu hao bao nhiêu năng lượng. Cường độ năng lượng có thể được tính ở những phạm vi khác nhau phù hợp với mục đích nghiên cứu: cường độ năng lượng quốc gia, cường độ năng lượng ngành, cường độ năng lượng khu vực, địa phương.
Các biến kinh tế có liên quan cần được lựa chọn phù hợp với từng đối tượng được tính cường độ năng lượng. Hệ số đàn hồi (Elasticity): Hệ số đàn hồi (hệ số co giãn) phản ánh sự thay đổi tương đối của một biến phụ thuộc so với một biến độc lập nào đó. Cụ thể hệ số đàn hồi thể hiện % thay đổi của biến phụ thuộc khi biến độc lập thay đổi 1%.