Đặt vấn đề Thực tế chứng minh rằng, sự phát triển của nhiều quốc gia đã cho thấy không một nền kinh tế nào có thể phát triển toàn diện khi không có một nền tảng cơ sở hạ tầng vững chắc. Bên cạnh đó cũng không ai phủ nhận đầu tư XDCB là tác nhân chính quyết định tới chất lượng của hệ thống cơ sở hạ tầng cho một nền kinh tế. Chính bởi lý do đó mà việc nghiên cứu và phân tích công tác thực hiện đầu tư XDCB nhằm đề ra giải pháp nâng cao CLCT xây dựng và kết quả đầu tư luôn là vấn đề đáng được quan tâm đối với mọi quốc gia. Để nâng cao hiệu quả QLNN về chất lượng các CTXD, cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát của các CQQLNN đối với chủ thể tham gia HĐXD, quy trình, quy phạm trong thiết kế, thi công xây dựng và nghiệm thu.
Phân giao quyền và trách nhiệm đầy đủ, cụ thể, rõ ràng cho các CQQLNN về CLCT xây dựng từ cấp TW đến địa phương. Làm rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia HĐXD trong công tác QLDA, QLCL và an toàn xây dựng. CQQLNN không thể làm thay toàn bộ CĐT hay các nhà thầu để kiểm soát CLCT xây dựng. Tuy nhiên cần phải tăng cường kiểm soát CLCT thông qua hoạt động kiểm tra thường xuyên hơn nữa đối với các CTXD chứ không chỉ kiểm tra vào các thời điểm, giai đoạn nhất định hay khi có sự cố đặc biệt hoặc dư luận lên tiếng, nhằm phát hiện, ngăn ngừa kịp thời những sự cố ảnh hưởng CLCT xây dựng.
Vì vậy, làm thế nào để nâng cao hiệu quả QLCL CTXD đang là câu hỏi mang tính cấp bách, là yêu cầu hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm 1. Chất lượng sản phẩm Khái niệm về chất lượng sản phẩm Theo tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”. Đặc điểm của chất lượng sản phẩm Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, nếu một sản phầm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại.
Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, cần xem xét đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể. Phân loại chất lượng sản phẩm CLSP được phân ra 6 loại như sau: - Chất lượng thiết kế - Chất lượng chuẩn - Chất lượng thực tế - Chất lượng cho phép - Chất lượng tối ưu - Chất lượng toàn phần Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm CLSP bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nhưng có thể chia thành hai nhóm yếu tố chủ yếu bên ngoài và nhóm yếu tố bên trong. * Nhóm yếu tố bên ngoài: - Ảnh hưởng của nhu cầu nền kinh tế. Ở bất cứ trình độ nào và mục đích sử dụng khác nhau, CLSP luôn bị chi phối, rằng buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện nhất định của nền kinh tế và được thể hiện ở các mặt: 5 + Nhu cầu của thị trường: là xuất phát điểm của quá trình QLCL; + Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất + Chính sách kinh tế - Ảnh hưởng của sự phát triển của khoa học - kỹ thuật.
Xu hướng chính của việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ hiện nay là: + Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế; + Cải tiến hay đổi mới công nghệ; + Cải tiến sản cũ và chế thử sản phẩm mới. - Ảnh hưởng của hiệu lực của cơ chế quản lý: có thể nói khả năng cải tiến, nâng cao CLSP của mỗi tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế quản lý. Hiệu lực QLNN là đòn bẩy quan trọng trong việc QLCL sản phẩm, đảm bảo cho sự phát triển ổn định của sản xuất, đảm bảo uy tín và quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dùng. Mặt khác, nó còn góp phần tạo tính tự chủ, độc lập, sáng tạo trong cải tiến CLSP của các tổ chức, hình thành môi trường thuận lợi cho việc huy động các nguồn lực, các công nghệ mới, tiếp thu ứng dụng những phương pháp QLCL hiện đại.
* Nhóm yếu tố bên trong tổ chức: trong phạm vi một tổ chức có 4 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến CLSP (theo tiếng Anh được biểu thị bằng quy tắc 4M), đó là: Con người (men): đây là lực lượng lao động trong tổ chức, bao gồm tất cả thành viên trong tổ chức, từ cán bộ lãnh đạo đến người thực hiện. Năng lực, phẩm chất của mỗi thành viên và mối liên kết giữa các thành viên có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng. Phương pháp (methods): phương pháp công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất của tổ chức. Với phương pháp công nghệ thích hợp, trình độ quản lý và tổ chức sản xuất tốt sẽ tạo điều kiện cho tổ chức có thể khai thác cao nhất khả năng nguồn lực hiện có, góp phần nâng cao SLSP.
6 Máy móc thiết bị (machines): đó là khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị của tổ chức. Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị có tác động rất lớn trong việc nâng cao những tính năng kỹ thuật của sản phẩm và nâng cao năng suất lao động. Nguyên vật liệu (materials): vật tư, nguyên nhiên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư, nguyên nhiên liệu của tổ chức. Nguồn vật tư, nguyên nhiên liệu được đảm bảo những yêu cầu chất lượng và được cung cấp đúng số lượng, đúng thời hạn sẽ tạo điều kiện đảm bảo và nâng cao CLSP 1.
Quản lý chất lượng sản phẩm Khái niệm về quản lý chất lượng sản phẩm Theo TCVN 8402-1994 “QLCL là tập hợp những hoạt động chức năng quản lý chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục đích chất lượng và thực hiện chúng bằng những phương tiện như lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống”. Theo định nghĩa của tiêu chuẩn ISO: QLCL là "hoạt động tương tác và phối hợp lẫn nhau nhằm định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng". Sơ đồ QLCL sản phẩm Các nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm a. Nguyên tắc thứ nhất là định hướng bởi khách hàng b.
Nguyên tắc thứ 2 là sự lãnh đạo 7 c. Nguyên tắc thứ 3 là sự tham gia của mọi người d. Nguyên tắc thứ tư là quan điểm quá trình e. Nguyên tắc thứ 5 là tính hệ thống f.
Nguyên tắc thứ 6 là cải tiến liên tục g. Nguyên tắc thứ 7 là quyết định dựa trên sự kiện h. Nguyên tắc thứ 8 là quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng Các phương pháp quản lý chất lượng sản phẩm a. Kiểm tra chất lượng b.
Kiểm soát chất lượng c. Kiểm soát chất lượng toàn diện d. Quản lý chất lượng toàn diện QLCL toàn diện được định nghĩa là phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự thỏa mãn khách hàng và lợi ích của các thành viên của đơn vị và của xã hội. Mục tiêu của QLCL toàn diện là cải tiến CLSP và thỏa mãn khách hàng ở mức tốt nhất cho phép 1.
Dự án và dự án đầu tư xây dựng công trình 1. Khái niệm về dự án Dự án được hiểu là một công việc với các đặc tính như nguồn lực (con người, tài chính, máy móc), có mục tiêu cụ thể, phải được hoàn thành với thời gian và chất lượng định trước, có thời điểm khởi đầu và kết thúc rõ ràng, có khối lượng và công việc cụ thể cần thực hiện, có nguồn kinh phí bị hạn chế và là sự kết nối hợp lý của nhiều phần việc lại với nhau. Theo Viện QLDA Quốc tế PMI 2007: QLDA là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với 8 các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực. Dự án đầu tư xây dựng công trình Khái niệm về dự án đầu tư XDCT - Dự án đầu tư có XDCT thì được gọi là dự án đầu tư XDCT - Dự án đầu tư XDCT là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những CTXD nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao CLCT hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định.
Đặc điểm của dự án đầu tư XDCT Sản phẩm của dự án đầu tư XDCT thường mang tính đơn chiếc, được xây dựng và sử dụng tại chỗ, vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng và thời gian sử dụng lâu dài; kích thước và khối lượng công trình lớn, cấu tạo phức tạp. Những đặc điểm của dự án đầu tư XDCT, cho thấy việc tạo ra sản phẩm công trình đảm bảo chất lượng có sự khác biệt so với việc sản xuất tạo ra sản phẩm của các ngành công nghiệp khác. QLDA đầu tư XDCT Khi nói đến QLDA thì có rất nhiều nhà khoa học đưa ra các luận điểm về QLDA. - Theo Luật Xây dựng: QLDA xây dựng là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho công trình dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt, đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật, chất lượng; đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh môi trường bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép.
- Theo Viện QLDA Quốc tế PMI 2007: QLDA chính là sự áp dụng các hiểu biết, khả năng, công cụ và kỹ thuật vào một tập hợp rộng lớn các hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu của một dự án cụ thể. 9 Tóm lại: QLDA XDCT là tổ chức, điều hành phân phối các nguồn lực hợp lý để đạt được mục tiêu đề ra, trong sự ràng buộc bởi điều kiện không gian, thời gian, quy mô kết cấu công trình và những quy định bắt buộc. Bản chất của QLDA đầu tư xây dựng là môn khoa học cần có những kiến thức về quản lý, chuyên môn và các kiến thức hỗ trợ (pháp luật, tổ chức nhân sự, kỹ thuật, môi trường, tin học. Sơ đồ QLDA đầu tư xây dựng 1.