Đặt vấn đề Bộ Cánh giống Homoptera gồm hai phân bộ lớn là phân bộ Ve – rầy Auchenorrhyncha và phân bộ Rệp Sternorrhyncha.Phân bộ Ve – rầy Auchenorrhyncha là phân bộ có số lượng loài lớn, bao gồm các nhómVe sầu và rầy.Phân bộ này trên thế giới hiện ghi nhận khoảng 47000 loài thuộc 33 họ, 4 liên họ (Dietrich, 2005, Bourgoin, 2015) [56, 43]. Khu hê ̣ Ve – rầ y của Viê ̣t Nam đươ ̣c sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài , các họ thuộc phân bộ này được nghiên cứu ở các mức độ ít nhiều khác nhau. Mô ̣t số ho ̣ đã đươ ̣c xây dựng danh lu ̣c thành phầ n loài ghi nhận ở Việt Nam như (Cicadidae, Cercopidae, Fulgoridae, Ricaniidae, Delphacidae, Issidae).Ở các khu vực khác nhau thì mức độ khảo sát cũng khác nhau , những năm gầ n đây các nghiên cứu tâ ̣p trung chủ yế u v ào các VQG và Khu bảo tồn thiên nhiên.Tuy nhiên, cho đế n nay vẫn chưa có công trình nào tổng hợp số lượng loài thuộc phân bộ này ghi nhận ở Việt Nam. Trạm ĐDSH Mê Linh đươ ̣c thành lâ ̣p vào năm 1999 và ngay từ những năm đầu thành lập, khu hê ̣ côn trùng tại Trạm ĐDSH Mê Linh cũng đã được quan tâm nghiên cứu.
Trong đó cũng có những công trình nghiên cứu liên quan đế n khu hê ̣ Ve –rầ y Auchenorrhycha. Bên cạnh những công trin ̀ h mô tả loài mớ i với mẫu chuẩ n thu ta ̣i đây, cũng có các công trình ghi nhận sự có mặt của một số nhóm loài tại khu vực này. Tuy nhiên các ghi nhâ ̣n này tâ ̣p trung chủ yế u vào ho ̣ Cicadidae và mô ̣t số ho ̣ của liên họ Fulgoroidea. Năm 2011, Trần Thiếu Dư và nnk đã cung cấp danh sách các loài côn trùng ghi nhận tại Trạm ĐDSH Mê Linh [2].Các tác giả này đãghi nhận 30 loài, 7 họ, thuộc phân bộ Ve – rầy Auchenorrhyncha tại Trạm ĐDSH Mê Linh , tuy nhiên công trình chỉ đưa ra danh sách tên 20 loài, 6 họ (12 loài đã định loại đến loài , 8 loài chỉ đinḥ loa ̣i đươ ̣c đế n giố ng).
Bên cạnh đó, nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc đưa ra danh sách loài, không bao gồm synonym cũng như không ghi nhận sự phân bố của nhóm nghiên cứu một cách rõ ràng. Cho đến nay, cũng đã có nhiều loài ghi nhận bổ sung cho Trạm. Chính vì vậy mà chúng tôi đăng ký tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứuthành phần loài nhóm Ve – rầy (Homoptera: Auchenorrhyncha) ở Trạm ĐDSH Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc”. Mục tiêu của đề tài - Xác định thành phần loài côn trùng thuộc phân bộ Ve – rầy Auchenorrhyncha ở Trạm ĐDSH Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đánh giá sự đa dạng thành phần loài côn trùng thuộc phân bộ Ve – rầy Auchenorrhyncha của khu vực nghiên cứu. Nội dung của đề tài Luận văn Thạc sỹ Trầ n Thi ̣ Mế n 1 c - Lập danh lục thành phần loài côn trùng thuộc phân bộ Ve – rầy Auchenorrhyncha ở Trạm Trạm ĐDSH Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc; - Bổ sung synomyn và vùng phân bố của các loài trong danh lục; - Sự đa dạng thành phần loài côn trùng thuộc phân bộ Ve – rầy Auchenorrhyncha của khu vực nghiên cứu. Ý nghĩa của đề tài Đề tài cung cấp thành phần các loài thuộc phân bộ Ve – rầy Auchenorrhyncha, cũng như bổ sung các dẫn liệu về khu vực phân bố và synonym của các loài thuộc phân bộ Ve –rầy tại Trạm ĐDSH Mê Linh. Luận văn Thạc sỹ Trầ n Thi ̣ Mế n 2 c CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu về phân bộ Ve–rầy Auchenorrhyncha trên thế giới Bộ Cánh giống Homoptera gồm hai phân bộ là phân bộ Ve – rầy Auchenorrhyncha và phân bộ Rệp Sternorrhyncha. Phân bộ Ve – rầy được phân biệt bởi một số đặc điểm: Bàn chân có 3 đốt, anten rất ngắn và dạng lông, đốt cuống râu có thể trở thành cơ quan cảm thụ rất phát triển. Vòi xuất phát từ phía sau của đầu.Đốt ống và bàn chân sau có thể có những gai để nhảy, ngọn đốt ống và bàn chân có lông gai dạng lược, các đốt ống thường có hàng lông gai.Hệ gân cánh thường phát triển (Kramer, 1950)[108].
Cũng như nhiều nhóm côn trùng khác, tài liệu nghiên cứu về nhóm này rải rác ở nhiều thế kỷ, được viết bằng nhiều ngôn ngữ và đăng tải trên nhiều tạp chí.Theo Shcherbakov (2002) nhóm Auchenorrhyncha có lịch sử 270 triệu năm [151] và nhóm côn trùng thuộc phân bộ Ve – rầy Auchenorrhyncha được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm.Ngay từ những thập niên cuối của thế kỷ XVIII đã có những nghiên cứu về nhóm này.Linnaeus là người đầu tiền đặt nền móng cho các nghiên cứu của các loài thuộc phân bộ này khi ông đặt tên cho 42 loài vào năm 1758 và ông xếp chúng vào một nhóm có tên là “Cicada” và nhiều tên trong số đó cho đến nay vẫn được sử dụng [120]. Bước sang thế kỷ XIX, catalog và khóa định loại tới họ, giống, loài của nhóm này tại một số khu vực nhất định được công bố như một số công trình của Walker(1850, 1851)với catalog các loài côn trùng của Bảo tàng Anh [160, 161] gồm 3 tập với mô tả và ghi nhận vùng phân bố của các loài thuộc họ Cicadidae, Fulgoridae, Membracidae, Cercopidae và Cicadellidae trong bộ sưu tập của Bảo tàng Anh; Douglas (1876) với catalog của bộ Cánh giống (Cicadaria) và bộ Cánh khác ở Anh [77]; Ashmead (1888) đưa ra khóa định loại tới họ của bộ Hemiptera, khóa định loại tới giống của phân họ Cicadinae, đến phân họ và giống của họ Fulgoridae [26]. Các nghiên cứu mở rộng ra nhiều khu vực như Nam Phi có các công bố khu hệ Ve – rầy của Distant (1893, 1897; 1899)[58, 59, 60].Ở Trung Mỹ có các công trình nghiên cứu của Fowler (1896) với tập sách chuyên khảo về nhóm Rhychota và tập trung vào Homoptera [95], khu vực Nam Á có Atkinson (1884, 1885a, 1885b, 1885c) [29-32]. Đến thế kỷ XX, hoạt động nghiên cứu của nhóm này được đẩy mạnh hơn nữa.
Ngay từ những năm đầu của thế kỷ, đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố, các tập sách chuyên khảo đã được xuất bản đầu tiên phải kể đến là công trình của Distant trong những năm 1904 – 1918 với cuốn “The Faunal of British India” bao gồm Luận văn Thạc sỹ Trầ n Thi ̣ Mế n 3 c 7 tập. Trong đó nhóm Ve –rầy Auchenorrhyncha được tác giả đưa ra khóa định loại tới giống và mô tả đặc điểm của các loài ghi nhận, chi tiết trong tập 3, 4 và được bổ sung thêm ở tập 6 và 7 [64, 71, 75]. Tập sách này là một trong những tài liệu quan trọng phục vụ công tác phân loại của các nhà khoa học nghiên cứu về bộ Homoptera. Cũng trong thời gian này , Metcalf biên soạn nhiều cuốn sách chuyên khảo về nhóm Ve - rầy, đă ̣c biê ̣t là cuố n “General Catalogue of the Hemiptera” , đươ ̣c ông biên soạn vào năm 1927 tới năm 1964, tấ t cả gồ m 8 tâ ̣p, đây có thể xem là tài liệu đầy đủ nhất cung cấp danh lục và tài liệu tham khảo của các nhóm thuô ̣c bô ̣ này tính đến năm 1955.
Trong cuốn này, một số phần được xuất bản trước thời điểm đó và có cũng có một số phần xuất bản sau thời điểm đó nhưng chỉ gồm các loài và các tài liệu liên quan tính đến năm 1955.Trong đó, các tập 4, 6, 7,8 viết về một số họ thuộc phân bộ Ve –rầy Auchenorrhyncha.Theo đó phân bộ Auchenorrhyncha được chia thành 4 liên họ [128-131]: Fulgoroidea ở tập 4: với ghi nhận 7086 loài thuộc 19 họ và được trình bày ở tất cả các phần: họ Cixiidae ở phần 2; Araeopidae (hoặc Delphacidae) ở phần 3; Derbidae ở phần 4; Achilixiidae ở phần 5; Meenoplidae ở phần 6; Kinnaridae ở phần 7; Dictyopharidae ở phần 8; Fulgoridae ở phần 9; Achilidae ở phần 10; Tropiduchidae ở phần 11; Nogodinidae ở phần 12; Flatidae và Hypochthonellidae ở phần 13; Acanaloniidae ở tập 14; Issidae ở phần 15; Ricaniidae ở phần 16; Lophopidae ở phần; Eurybrachidae và Gengidae ở phần 18; Cicadelloidea ở tập 6 ghi nhận 1791 loài thuộc 2 họ: Hylicidae ở phần 2; Cicadellidae ở phần 17; Cercopoidea ở tập 7 ghi nhận 2368 loài thuộc 4 họ: Machaerotidae ở phần 1; Cercopidae ở phần 2; Aphrophoridae ở phần 3; Clastopteridae ở phần 4; Cicadoidea ở tập 8: Cicadidae ở phần 1gồm 1162 loài thuộc 131 giống. Ngoài ra, trong giai đoạn này nhiều catalog khác cũng được biên soạn như Wade (1960) cũng đã biên soạn cuốn “General catalogue of The Homoptera” với các loài thuộc phân bộ Auchenorrhncha để cập tới ở các tập I (Membracoidea và hóa thạch Auchenorrhyncha, 1966), tập 4 (liên họ Fulgoroidea; Cicadelloidea, 1960), tập 7(Cercopoidea, 1963) và tập 8 (Cicadoidea, 1964) [159].Trong cuốn “Handbooks for the Identification of British Insects”, Le Quesne đã đưa ra khóa định loại tới loài của một số họ thuộc phân bộ Auchenorrhyncha [111, 112]. Bên ca ̣nh đó , các catalog về khu hệ Ve – rầy riêng cho các khu vực như Kato (1933) với catalog về các loài côn trùng của Nhật Bản[104] trong đó có các loài thuô ̣c bô ̣ Homoptera ; Williams & Williams (1988) với catalog của bô ̣ Homoptera ở quần đảo Mascarene [162]. Bên cạnh các công trình chuyên khảo thì các tạp chí khoa học về côn trùng, các bài báo ghi nhận loài mới, nghiên cứu về phân Luận văn Thạc sỹ Trầ n Thi ̣ Mế n 4 c loại học vẫn tiếp tục được công bố như Metcalf (1917, 1920); Evans (1973) [126, 127, 85].
Nhiều khu hệ Ve – rầy khác nhau ở trên thế giới tiếp tục được nghiên cứu và mở rộng. Châu Phi có Mckamey (1999) khảo sát về khu hệ Ve - rầy ở các khu rừng nhiệt đới ở Châu Phi [123]. Khu vực Trung Mỹ: Distant (1900b, 1903) [62, 63]. Khu vực Châu Úc: Ashton (1912, 1914); Distant (1908) [27, 28, 65].
Châu Âu như Nast (1987) [135];Khu vực Châu Á được nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu, riêng khu vực này đã ghi nhận nhiều công trình của Distant (1911a, b, c, 1912a, 1912b) [66-70]; và còn rất nhiều các công trình công bố cho khu hệ Ve - rầy ở các vùng khác trong khu vực Châu Á như Philippincó Baker (1914, 1915a, 1915b) [33-35], Trung Quốc có Distant (1900) [61]; Zhang (1990) [168]; Chen (1933, 1940, 1943) [45-47], Fennal (1956) [90]; Việt Nam có Fennal(1978) [91], Hàn Quốc có Lee (1979) [113]. Khóa định loại của phân bộ Ve – rầy cho nhiều khu vực khác nhau cũng được xây dựng: Baker xây dựng khóa định loại cho nhiều loài, giống thuộc phân bộ Ve – rầy ở nhiều ở Philippin (Baker, 1924, 1927) [37, 38].