Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trồng rừng thâm canh và thâm canh rừng trồng 1. Khái niệm trồng rừng thâm canh Trồng rừng thâm canh là vấn đề trước đây ít có người quan tâm, song do nguồn gỗ rừng tự nhiên không còn đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng tăng của xã hội. Hơn nữa, diện tích đất giành cho trồng rừng có hạn, năng suất rừng trồng rất thấp, không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu gỗ nguyên liệu cho công nghiệp.
Vì thế, trồng rừng thâm canh đã trở thành một xu thế tất yếu trong sản xuất lâm nghiệp hiện nay, nhất là trồng rừng nguyên liệu phục vụ công nghiệp giấy và ván nhân tạo. Trồng rừng thâm canh là một giải pháp duy nhất để nâng cao năng suất rừng trồng và rút ngắn chu kỳ kinh doanh. Nhưng hiểu như thế nào về vấn đề trồng rừng thâm canh và thâm canh rừng trồng? Theo Vũ Quang Minh (1987)[38] “Trồng rừng thâm canh là tăng cường đầu tư các biện pháp kỹ thuật tổng hợp tác động vào rừng từ khâu tạo cây con, làm đất, trồng rừng, chăm sóc bảo vệ đến khâu khai thác rừng, nhằm nâng cao số lượng và chất lượng lâm sản, đồng thời củng cố tiềm năng tự nhiên của rừng để nâng cao sức sản xuất của rừng”. Theo Nguyễn Xuân Quát (1995)[40] thì “Trồng rừng thâm canh là một phương pháp canh tác dựa trên cơ sở được đầu tư cao bằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp và liên hoàn.
Các biện pháp được tăng cường đầu tư đó phải tận dụng, cải tạo và phát huy được mọi tiềm năng của tự nhiên cũng như của con người nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sinh trưởng và phát triển của rừng trồng để thu được năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt với giá thành hạ để cho hiệu quả lớn. Đồng thời cũng phải duy trì và bồi dưỡng được tiềm năng đất đai và môi trường, đáp ứng yêu cầu phát triển trồng rừng ổn định, lâu dài và bền vững”. c 4 Theo thuật ngữ Lâm nghiệp (1996)[50] thì “Trồng rừng thâm canh (Intensive plantation management) là biện pháp đầu tư theo chiều sâu nhằm làm cho rừng trồng sinh trưởng nhanh, sớm đạt mục tiêu đề ra và đạt hiệu quả cao hơn trước. Đầu tư chiều sâu ở đây không chỉ giới hạn ở việc đầu tư tiền vốn, vật tư, lao động mà còn làm sao phát huy hết tiềm năng và điều kiện sẵn có của tự nhiên và xã hội để mang lại hiệu quả cao”.
Khái niệm thâm canh rừng trồng Theo Nguyễn Xuân Xuyên và cộng sự (1985)[51],“Thâm canh rừng trồng là tăng cường đầu tư các biện pháp kỹ thuật tổng hợp tác động vào rừng từ khâu tạo cây con, làm đất, trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng đến khâu khai thác rừng nhằm nâng cao số lượng và chất lượng lâm sản, đồng thời củng cố tiềm năng tự nhiên của rừng để nâng cao sức sản xuất của rừng”. Theo Vũ Đình Huề (1986)[21], xét về hiệu quả cuối cùng thì “Thâm canh rừng là phương thức kinh doanh được đặc trưng bằng sự tăng chi phí trên một đơn vị diện tích kinh doanh và giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm”. Theo định nghĩa này thì sự tăng chi phí trên một đơn vị diện tích kinh doanh được hiểu rộng là sự đầu tư về kinh tế, khoa học kỹ thuật trong quá trình từ chọn giống, trồng, quản lý bảo vệ và chăm sóc rừng. Đầu tư kinh tế kỹ thuật cao để thu được năng suất cao và giảm giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá trình độ thâm canh.
Tác giả còn nhấn mạnh điểm quan trọng nhất của thâm canh là vấn đề giống, giống là trọng tâm của chiến lược thâm canh. Theo Phùng Ngọc Lan (1986)[33],“Thâm canh rừng nhằm bảo vệ và sử dụng triệt để các điều kiện về tài nguyên, khí hậu, đất đai, sinh vật và áp dụng những thành tựu KHKT hiện đại có liên quan để nâng cao năng suất rừng và hiệu quả kinh tế. Thâm canh rừng đòi hỏi một hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tổng hợp, liên hoàn từ khâu chọn loài cây trồng , chọn giống, kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, tỉa thưa dựa trên mô hình mật độ tối ưu cho đến c 5 bảo đảm tái sinh trong khai thác”. Theo định nghĩa này là phải đứng trên quan điểm lâm sinh học, vấn đề cốt lõi của thâm canh rừng là phải tạo ra một hệ sinh thái rừng có tính ổn định cao, sử dụng và phát triển tiềm năng tự nhiên sẵn có, khả năng chống đỡ cao với dịch sâu bệnh hại,.
Cơ sở khoa học đầu tiên quyết định sự thành bại của thâm canh rừng là phải lựa chọn và bố trí cơ cấu cây trồng chính xác. Các khái niệm trồng rừng thâm canh và thâm canh rừng trồng được các tác giả đưa ra trên đây tuy khác nhau về thuật ngữ và cách diễn đạt nhưng nội dung thì gần giống nhau. Bản chất vấn đề của thâm canh rừng trồng và trồng rừng thâm canh là đều phải nâng cao được năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của rừng trồng, đồng thời phải cải thiện được điều kiện môi trường để đảm bảo sản xuất lâu dài và bền vững. Xét trong một phạm vi nào đó thì hai khái niệm này có thể được xem như là một.
Do vậy, nên chăng có một khái niệm chung như sau: Trồng rừng thâm canh hay thâm canh rừng trồng là một phương thức canh tác được đầu tư cao bằng việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật một cách tổng hợp và liên hoàn nhằm tận dụng, cải tạo và phát huy tiềm năng sẵn có của tự nhiên và con người để nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, đồng thời nâng cao hiệu quả cả về kinh tế lẫn môi trường đảm bảo đáp ứng được yêu cầu kinh doanh lâu dài và bền vững. Một số vấn đề trong thâm canh rừng trồng Trong trồng rừng thâm canh công nghiệp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật giữ vai trò cốt lõi đem đến sự thành công, đó là: - Ứng dụng công nghệ sinh học trong lâm nghiệp đã được Haines (1994) đề cập đến, cụ thể như việc xây dựng và hoàn chỉnh bản đồ gen, công nghệ đánh dấu tế bào, chuyển gen và vi nhân giống. Những ứng dụng trong việc sản xuất và nhân giống các loài cây lai là một trong những tiêu điểm của rất nhiều chương trình trồng rừng. Việc ứng dụng của nhiều kỹ thuật công nghệ c 6 sinh học mang tính phụ thuộc và hỗ trợ lẫn nhau, đặc biệt trong kỹ thuật nhân giống vô tính, kỹ thuật này đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều chương trình (Griffin 1996, Watt et al 1998)[58].
- Ứng dụng những tiến bộ trong công nghệ chế biến đã cho phép ngành công nghiệp chế biến sử dụng những bộ phận rất nhỏ của cây và cả những cây non, ngoài ra còn cả những loài cây mà trước đó không được trông đợi có thể sử dụng cho ngành công nghiệp chế biến gỗ. - Việc lập kế hoạch hoàn chỉnh và một hệ thống chính sách hỗ trợ phù hợp là vấn đề trung tâm cho sự thành công của các đơn vị trồng rừng, điều này cần đặc biệt quan tâm từ vấn đề đơn giản nhất đến vấn đề phức tạp nhất (Pritchard 1989) , sự thiếu hụt của một hệ thống chính sách và kế hoạch hiệu quả là yếu tố cản trở chính đến sự thành công của việc trồng rừng ở nhiều đơn vị trồng rừng trong vùng nhiệt đới (Pandey 1983)[64]. Nghiên cứu các giải pháp thâm canh rừng trồng 1. Nghiên cứu về lập địa và chọn loại cây trồng Kết quả nghiên cứu của Pandey.D (1983) [64] về loài Bạch đàn Eucalyptus camaldulensis được trồng trên các điều kiện lập địa khác nhau đã cho thấy nếu trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10-20 năm thì năng suất chỉ đạt từ 5-10 m3/ha/năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt đới ẩm thì năng suất có thể đạt tới 30 m3/ha/năm.
Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông Pinus patula ở Swziland, Julian Evans (1992) [60] đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loài Thông này có quan hệ khá chặt (R=0,81) với các yếu tố địa hình và đất thông qua phương trình tương quan sau: Y = -18,75 + 0,0544x3 - 0,000022x32 + 0,0185x4 + 0,0449x5 + 0,5346x11 Trong đó: Y: Chiều cao vút ngọn tại thời điểm 12 tuổi (m); x3: Độ cao so với mặt nước biển (m); c 7 x4: Độ dốc chênh lệch giữa đỉnh đồi và chân đồi (%); x5: Độ dốc tuyệt đối của khu trồng rừng (%); x11: Độ phì của đất đã được xác định Từ các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới về điều kiện lập địa đã cho thấy việc xác định vùng trồng và điều kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết và đây cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và chất lượng của rừng trồng đã được nhiều nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu kỹ lưỡng. Hoàng Xuân Tý (1976-1980), đã thực hiện Đề tài “Đánh giá tiềm năng và hướng dẫn sử dụng đất vùng Trung tâm trong kinh doanh rừng nguyên liệu giấy”. Kết quả cho thấy có năm nhân tố thổ nhưỡng ảnh hưởng rõ rệt nhất đối với năng suất rừng trồng là: hàm lượng mùn, hàm lượng đạm, độ xốp, chế độ nước và độ dày tầng đất, tác giả cũng cảnh báo rằng cả năm nhân tố này đều dễ dàng thay đổi, rất rễ suy thoái do mất rừng và sử dụng đất không hợp lý. Đỗ Đình Sâm, Nguyễn Ngọc Bình và các cộng sự (1990-1995) [43] khi thực hiện đề tài “Đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp và hoàn thiện phương pháp điều tra lập địa” đã chỉ ra rằng độ phì đất và tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp nhìn chung còn khá nhưng thực tế chưa được phát huy, sử dụng đất có nơi chưa bền vững.
Cần có quy hoạch và xây dựng chiến lược cho rừng trồng sản xuất, có mục tiêu rõ ràng, đặc biệt rừng trồng công nghiệp trên phạm vi toàn quốc. Phạm Thế Dũng và các cộng sự (2002-2005) [8] đã phối hợp với Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) tham gia Dự án mạng “Quản lý lập địa và năng suất rừng trồng nhiệt đới” tại Trạm Phú Bình, Bình Dương với đối tượng là rừng trồng Keo lá tràm luân kỳ hai. Kết quả bước đầu cho thấy việc để lại cành nhánh sau khai thác đã có tác động tới tăng trưởng của rừng trồng chu kỳ 2, sau hai năm đường kính và chiều cao của các công thức c 8 để lại cành nhánh đã lớn hơn rõ rệt so với công thức không để lại cành nhánh.