ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng nước ta ngày càng suy giảm về diện tích và chất lượng, tỉ lệ che phủ thực vật dưới ngưỡng cho phép về mặt sinh thái, ¾ diện tích đất đai của nước ta (so vớidiện tích dất tự nhiên) là đồi núi, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên rừng rất quan trọng trong việc cân bằng sinh thái. Tính đến 31/12/2014 toàn quốc có tổng diện tích rừng là 13.506 ha; bao gồm: Rừng tự nhiên 10.186 ha và rừng trồng 3. Độ che phủ đạt 40,43%; phân theo loài cây: Cây rừng đạt 39,02% và cây cao su, đặc sản đạt 1,40% (Theo quyết định số 3135/QD-BNN-TCLN ngày 6/8/2015. Hiện nay, nạn phá rừng ở nước ta đã đến mức báo động, phá rừng theo cách đơn giản nhất để làm nương rẫy, phá rừng để kiếm khoáng sản, phá rừng lấy gỗ… và vô vàn những kiểu tiếp tay vi phạm pháp luật khác đang hủy hoại lá phổi xanh của đất nước.
Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Pù Hu có tổng diện tích tự nhiên 27.149 ha rừng đặc dụng cần được bảo vệ nghiêm ngặt và còn nhiều loài quý hiếm như Chó sói, Gấu ngựa, Báo hoa mai, Bò tót,.Trong số các loài động vật này, có tới hơn 30 loài đã được ghi vào sách Đỏ Việt Nam và Thế giới. Bên cạnh đó, những khu rừng nguyên sinh ở Pù Hu còn có nhiều loại cây gỗ quý như: Lát hoa, Sến mật, Vàng tâm, Trầm hương, Trường mật, Song mật,…cho thấy đây là khu vực có giá trị cao về tính đa dạng sinh học, đặc biệt là về gen của các loài động thực vật quý hiếm. Ngoài ra, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu còn có chức năng điều tiết nguồn nước cho Nhà máy thủy điện Trung Sơn đang được xây dựng trên địa bàn xã Trung Sơn, huyện Quan Hóa. Vùng đệm KBTTN Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa đa số là đồng bào dân tộc Thái, Mường, H’mông sống tập trung với tập quán đốt nương làm rẫy, chăn thả gia súc tự do, gây ảnh hưởng trược tiếp đến tài nguyên rừng.
Bên cạnh đó việc di dân tự do từ các khu vực khác đến địa bàn đã mang lại khó khăn cho c 2 việc sắp xếp dân cư ổn định. Sự phức tạp này dẫn đến việc quản lý rừng ở vùng lõi lẫn vùng đệm KBT gặp nhiều khó khăn, diện tích và chất lượng rừng đang trong nguy cơ bị suy giảm nghiêm trọng. Thực trạng này nếu không được ngăn chặn sẽ càng làm tăng thêm nghi ngờ về khả năng tồn tại của hệ thống rừng đặc dụng trong tương lai cũng như hiệu quả của các nguồn lực đầu tư to lớn dành cho rừng đặc dụng. Ngoài ra, việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản ngoài gỗ khác phục vụ cho nhu cầu làm nhà và sử dụng trong gia đình của người dân tộc sống quanh rừng đang gây nên áp lực khá lớn lên tài nguyên rừng.
Đặc biệt việc khai thác gỗ làm nhà đã là văn hóa của người Thái, Mường và chỉ có thể kiểm soát ở một mức độ nhất định chứ không thể ngăn cấm hoàn toàn. Cộng đồng địa phương mặc dù đã có những thay đổi khá tiến bộ trong canh tác nông lâm nghiệp nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định trong quá trình này gây ảnh hưởng đến diện tích cũng như chất lượng rừng. Chẳng hạn việc phát vén nương vào diện tích của rừng; việc canh tác trên đất dốc không bền vững khiến hiện tượng xói mòn, rửa trôi hay thậm trí là làm mất đất canh tác do sạt lở vẫn còn xảy ra khi gặp các điều kiện thời tiết bất thường, đặc biệt trong bối cảnh của biến đổi khí hậu hiện nay. Hơn thế nữa, thời gian nắng nóng kéo dài kết hợp với việc đốt nương của người dân đang là nguy cơ tiềm ẩn và là nguyên nhân của những vụ cháy rừng hiện nay.
Mặc dù không thể phủ nhận vai trò và ý nghĩa của Thủy điện trung sơn về kinh tế và đời sống cho người dân, tuy nhiên sẽ có những xáo trộn trong kết cấu cộng đồng của những bản bị tác động, đồng thời sẽ gây ra một số tác động không hề nhỏ liên quan đến tổ chức trong cộng đồng về các mặt văn hóa, đời sống khi phải di chuyển đến một nơi tái định cư mới. Khi mà trước đây những hoạt động cộng đồng đều gắn liền với rừng hay có thể nói rằng những văn hóa đó có nguồn gốc từ việc sống và sinh hoạt liên quan đến rừng. Nay một số cộng đồng được di cư đến một nơi ở mới, nơi mà họ thiếu đất c 3 canh tác hoặc các khu rừng không thuộc về họ, từ đó sẽ giảm sự tham, trách nhiệm của người dân trong các công tác quản lý bảo vệ rừng. Về mặt đa dạng sinh học, có thể có những trường hợp xây dựng thủy điện trung sơn sẽ làm ảnh hưởng hoặc mất sinh cảnh sống của một số loài và việc ôi nhiễm không khí và tiếng ồn trong quá trình xây dựng sẽ xua đuổi các loại động vật trong rừng gần đó.
Do vậy, để bảo vệ những giá trị tài nguyên rừng trong vùng lõi Khu BTTN Pù Hu, cần phải có những nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý bảo vệ rừng bền vững nhằm khôi phục nguồn tài nguyên rừng và nâng cao đời sống kinh tế cho người dân sống trong vùng đệm. Để góp phần tìm ra những giải pháp quản lý tài nguyên rừng ở vùng đệm KBTTN Pù Hu, tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý tài nguyên rừng tại KBTTN Pù Hu – tỉnh Thanh Hóa”. c 3 Phần 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1.
Cơ sở lý luận Đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, tài nguyên rừng đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển.Cuộc sống của đại đa số người dân đều phụ thuộc vào tài nguyên rừng. Đặc biệt là những người dân sống ở miền núi, có đời sống phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn thu từ các loại lâm sản. Môi trường sống của đại bộ phận dân cư ở miền xuôi cũng như miền ngược đều dựa vào sự tồn tại của tài nguyên rừng. Thế nhưng, những cố gắng tăng cường kiểm soát tài chính đối với các khu rừng quốc gia thường chỉ làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các bên và chỉ gây thêm tổn hại đến hệ sinh thái, hơn là bảo tồn và sử dụng bền vững các hệ sinh thái đó.
Nhân dân một số nước trên thế giới đã lên tiếng đòi hỏi các ngành công nghiệp chấm dứt tình trạng khai thác tài nguyên rừng. Từ Surinam đến Solomo, Ấn Độ, Nêpan, Indonexia, Philippin, Zimbabuwe, Panama, Mỹ, Canada, và nhiều dân tộc khác, mối quan tâm đối với nạn phá rừng đã thúc đẩy các cộng đồng tổ chức các cuộc biểu tình quần chúng, chặn các con đường chở gỗ, kêu gọi chính phủ ban hành các hệ thống pháp luật ngăn chặn nạn phá rừng. Quản lý rừng bền vững đề cập đến 2 khía cạnh quan trọng là xây dựng, bảo vệ và sử dụng các nguồn tài nguyên rừng phục vụ cho các nhu cầu của con người phải được diễn ra một cách thường xuyên, liên tục và ổn định qua các thế hệ. Quản lý và sử dụng rừng bền vững bao gồm các quy trình công nghệ, chính sách và hoạt động, nhằm hội nhập những nguyên lý kinh tế và xã hội mới với các mối quan tâm về môi trường sao cho có thể đồng thời: c 4 - Giảm mức độ nguy cơ cho sản xuất - Duy trì và nâng cao sự phục vụ sản xuất - Có thể đứng vững được kinh tế - Có thể chấp nhận được về mặt xã hội - Không gây ô nhiễm môi trường Nói cách khác, loại hình sử dụng tài nguyên rừng có thể được coi là bền vững nếu như cách sử dụng có tính cân đối về mặt xã hội, có cơ sở về mặt môi trường, được chấp nhận về mặt chính trị, có tính khả thi về mặt kỹ thuật và phù hợp về mặt kinh tế.
Những nghiên cứu liên quan đến đề tài Ở Philippines, chiến lược Quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học nêu rõ rằng: “Điều chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn đa dạng sinh học là phải đảm bảo rằng các cộng đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định về chính sách liên quan đến môi trường, sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với bảo tồn đa dạng sinh học”. Ở Indonexia, kế hoạch hành động đa dạng sinh học ghi nhận rằng: “Việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là cộng đồng sinh sống bên trong và phụ thuộc vào các vùng có tính đa dạng sinh học cao, là mục tiêu chính của kế hoạch hành động, là điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện kế hoạch. (1988) trong nghiên cứu của mình thực hiện tại làng Ban Pong, tỉnh S.Risaket, Thái Lan chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng được chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như: củi đun và hoa quả trong rừng. Tuy nhiên, đây là một minh họa rất cần thiết của người dân địa phương tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển (FAO, 1996).P (1980) trong tác phẩm “Thay đổi và NLKH bản địa” tại Đông Kalimamtan.
Qua mô tả việc đi thu hái lâm sản phụ, tác giả đã nhận định rằng những sản vật đó được coi như là những mặt hàng không phải trả tiền, ai cũng có thể thu lượm được. Thế nhưng những quyền đó không được quy định cụ thể, nó đã trở thành một thông lệ, trong đó có cả việc dùng gỗ làm nhà, có lúc dùng để biện hộ cho việc thu hoạch gỗ và bán. Năm 1986, trong tác phẩm “Lâm nghiệp xã hội và hành động của cộng đồng” các tác giả Dorji, D. Thinley và Wangchuks cho rằng: Rừng chủ yếu là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và nước vùng đất dốc (FAO, 1996) Ở Nêpan, đã có một số mô hình thành công về chương trình bảo tồn đa dạng sinh học theo hướng toàn cầu.
Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của cuộc xung đột vũ trang trong gần một thập kỷ đã tác động xấu đến bảo tồn đa dạng sinh học. Chính vì vậy, một số nghiên cứu về đánh giá tác động của những hoạt động này đến bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bardia và vùng đệm phía tây Nêpan đã được thực hiện.