MỞ ĐẦU Vào những năm đầu của thế kỉ 21, khoa học và công nghệ nano đang là trào lƣu nghiên cứu và tìm tòi của các nhà khoa học trong nƣớc và trên thế giới.Khi vật chất có kích thƣớc nano thì chúng xuất hiện những tính chất lạ nhƣ tính chất từ, tính chất quang, hoạt tính phản ứng bề mặt… Những tính chất này phụ thuộc vào kích thƣớc, kích thƣớc và hình dạng của hạt nano. Chính điều này đã thúc đẩy các nhà nghiên cứu tìm tòi chế tạo những vật liệu mới có ứng dụng thực tiễn vô cùng to lớn trong các lĩnh vực y dƣợc, mỹ phẩm, công nghiệp hóa học,… Vật liệu có cấu trúc nano rất đƣợc quan tâm hiện nay là các kim loại, oxit kim loại, chất bán dẫn, cacbon,… Trong các vật liệu trên, nano TiO2 đƣợc đánh giá cao do có khả năng ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực bởi có hoạt tính quang xúc tác cao, trơ về hóa học và sinh học, bền vững, không bị ăn mòn dƣới tác dụng của ánh sáng và hóa học, giá thành thấp. Tuy nhiên, do năng lƣợng vùng cấm của TiO 2 tinh khiết khá lớn (3,25 eV đối với pha anata và 3,05 eV đối với pha rutin) nên chỉ hoạt động quang xúc tác trong vùng tử ngoại gần và do đó chỉ có thể tận dụng đƣợc một phần nhỏ (<4%) nguồn năng lƣợng mặt trời, làm giới hạn ứng dụng và thƣơng mại của nó [1, 3, 5]. Để giảm năng lƣợng vùng cấm của TiO 2, mở rộng ánh sáng kích thích về vùng nhìn thấy và có thể sử dụng nguồn năng lƣợng dồi dào của bức xạ mặt trời, phƣơng pháp đƣợc sử dụng phổ biến là pha tạp (hay biến tính) nó bằng các kim loại, không kim loại hoặc hỗn hợp [6, 12-19].
Nhiều ion kim loại và không kim loại đã đƣợc các nhà nghiên cứu sử dụng để pha tạp các dạng thù hình của TiO2 bằng nhiều phƣơng pháp khác nhau. Trong đó, pha tạp TiO2 bằng kim loại quý [12-17, 20-23, 38-39] thu hút đƣợc sự chú ý vì hai lí do sau. Thứ nhất, kim loại quý có thể đóng vai trò nhƣ bẫy electron và giúp đỡ quá trình chia cắt elecron-lỗ trống. Thứ hai, ánh sáng 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tới có bƣớc sóng dài trong vùng đã biết có thể bị hấp thụ một cách rộng rãi bởi các hạt nano kim loại quý do hiệu ứng bề mặt mới sinh.
Trong số các kim loại quý, Ag đƣợc chú ý đặc biệt vì nó có hiệu ứng cộng hƣởng mới sinh hiệu quả nhất [28, 33]. Việt Nam là một nƣớc có trữ lƣợng titan sa khoáng lớn lại nằm trong vùng nhiệt đới với thời lƣợng chiếu sáng hằng năm của mặt trời khá cao nên tiềm năng ứng dụng của vật liệu quang xúc tác là khá lớn. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về tổng hợp vật liệu nano TiO2, TiO2 pha tạp nói chung và vật liệu nano Ag-TiO2 nói riêng, tuy nhiên lĩnh vực nghiên cứu này vẫn mang tính thời sự và thu hút nhiều sự chú ý [2, 20, 38]. Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn là: “Nghiên cứu điều chế, khảo sát hoạt tính quang xúc tác của bột titan đioxit kích thƣớc nano đƣợc biến tính bạc”.
2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. GIỚI THIỆU VỀ TiO2 KÍCH THƢỚC NANO MÉT 1. Cấu trúc và tính chất vật lý của titan đioxit TiO2 là chất rắn màu trắng, khi đun nóng có màu vàng, khi làm lạnh thì trở lại màu trắng. Tinh thể TiO2 có độ cứng cao, khó nóng chảy (Tnco = 1870oC) [3].
TiO2 có ba dạng thù hình tinh thể là anata (tetragonal), rutin (tetragonal) và brukit (orthorhombic) [15] (Hình 1. Cấu trúc anata Cấu trúc rutin Cấu trúc brukit Hình 1. Cấu trúc tinh thể các dạng thù hình của TiO2 Rutin là dạng bền phổ biến nhất của TiO2, có mạng lƣới tứ phƣơng trong đó mỗi ion Ti4+ đƣợc ion O2- bao quanh kiểu bát diện, đây là kiến trúc điển 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình của hợp chất có công thức MX2, anata và brukit là các dạng giả bền và chuyển thành rutin khi nung nóng. Cấu trúc mạng lƣới tinh thể của rutin, anata và brukit đều đƣợc xây dựng từ các đa diện phối trí tám mặt (octahedra) TiO 6 nối với nhau qua cạnh hoặc qua đỉnh oxi chung.
Mỗi ion Ti 4+ đƣợc bao quanh bởi tám mặt tạo bởi sáu ion O 2- Hình 1. Hình khối bát diện của TiO2. Các mạng lƣới tinh thể của rutin, anata và brukit khác nhau bởi sự biến dạng của mỗi hình tám mặt và cách gắn kết giữa các octahedra. Hình tám mặt trong rutin là không đồng đều do đó có sự biến dạng orthorhombic (hệ trực thoi) yếu.
Các octahedra của anata bị biến dạng mạnh hơn, vì vậy mức đối xứng của hệ là thấp hơn hệ trực thoi. Khoảng cách Ti – Ti trong anata lớn hơn trong rutin nhƣng khoảng cách Ti - O trong anata lại ngắn hơn so với rutin. Trong cả ba dạng tinh thể thù hình của TiO2 các octahedra đƣợc nối với nhau qua đỉnh hoặc qua cạnh (Hình1. Những sự khác nhau trong cấu trúc mạng lƣới dẫn đến sự khác nhau về mật độ điện tử giữa hai dạng thù hình rutin và anata của TiO2 và đây là nguyên nhân của một số sự khác biệt về tính chất giữa chúng.
Tính chất và ứng dụng của TiO2 phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc tinh thể các dạng thù hình và kích thƣớc hạt của các dạng thù hình này. Chính vì vậy khi điều chế TiO2 cho mục đích ứng dụng thực tế cụ thể ngƣời ta thƣờng quan tâm đến kích thƣớc hạt, diện tích bề mặt và cấu trúc tinh thể của sản phẩm. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Một số tính chất vật lý của TiO2 ở dạng anata và rutin [6] STT Tính chất vật lý Anata Rutin 1 Cấu trúc tinh thể Tứ phƣơng Tứ phƣơng 2 Nhiệt độ nóng chảy (oC) 1800 1850 3 Khối lƣợng riêng (g/cm3) 3.0 5 Chỉ số khúc xạ 2.75 6 Hắng số điện môi 31 114 7 Nhiệt dung riêng (cal/mol.2 8 Năng lƣợng vùng cấm (eV) 3.05 Quá trình chuyển dạng thù hình của TiO2 vô định hình - anata - rutin bị ảnh hƣởng rõ rệt bởi các điều kiện tổng hợp và các tạp chất, quá trình chuyển pha từ dạng vô định hình hoặc cấu trúc anata sang cấu trúc rutin bắt đầu xảy ra ở nhiệt độ ~500oC [30].
Theo tác giả công trình [2] thì năng lƣợng hoạt hoá của quá trình chuyển anata thành rutin phụ thuộc vào kích thƣớc hạt của anata, nếu kích thƣớc hạt càng bé thì năng lƣợng hoạt hoá cần thiết để chuyển anata thành rutin càng nhỏ. Ngoài ra, sự có mặt của các tạp chất cũng ảnh hƣởng đến nhiệt độ và tốc độ chuyển pha [30]. Tính chất hóa học của titan đioxit TiO2 bền về mặt hoá học (nhất là dạng đã nung), không phản ứng với nƣớc, dung dịch axit vô cơ loãng, kiềm, amoniac, các axit hữu cơ [8]. TiO2 tan không đáng kể trong các dung dịch kiềm tạo ra các muối titanat.
TiO2 tan rõ rệt trong borac và trong photphat nóng chảy. Khi đun nóng lâu với axit H2SO4 đặc thì nó chuyển vào trạng thái hoà tan (khi tăng nhiệt độ 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nung của TiO2 thì độ tan giảm). TiO2 tác dụng đƣợc với axit HF hoặc với Kali bisunfat nóng chảy. Ở nhiệt độ cao TiO2 có thể phản ứng với cacbonat và oxit kim loại để tạo thành các muối titanat: TiO2 dễ bị hidro, cacbon monooxit và titan kim loại khử về các oxit thấp hơn.
Tính chất điện tử [1] Các trạng thái điện tử của TiO2 có thể phân chia thành ba loại: liên kết của các trạng thái O p và Ti eg trong vùng năng lƣợng thấp hơn; liên kết của các trạng thái O p và Ti eg trong vùng năng lƣợng trung bình; và các trạng thái O p trong vùng năng lƣợng cao hơn. Phần dƣới cùng của vùng dẫn thấp hơn (CB) gồm có các obitan Ti dxy đóng góp vào các tƣơng tác kim loại – kim loại dẫn đến liên kết của các trạng thái Ti t2g – Ti t2g. Giản đồ sự phân bố các mức năng lƣợng của các orbital phân tử đối với anata đƣợc đƣa ra nhƣ hình 1. TiO2 ở dạng anata có hoạt tính quang hóa cao hơn các dạng tinh thể khác, điều này đƣợc giải thích dựa vào cấu trúc vùng năng lƣợng.
Nhƣ chúng ta đã biết, trong cấu trúc của chất rắn có 3 miền năng lƣợng là vùng hóa trị, vùng cấm và vùng dẫn. Tất cả các hiện tƣợng hóa học xảy ra đều là do sự dịch chuyển electron giữa các vùng với nhau. Anata có năng lƣợng vùng cấm là 3.25 eV, tƣơng đƣơng với một lƣợng tử ánh sáng có bƣớc sóng 382nm. Rutin có năng lƣợng vùng cấm là 3,05 eV tƣơng đƣơng với một lƣợng tử ánh sáng có bƣớc sóng 407 nm.
Giản đồ năng lƣợng của anata và rutin đƣợc chỉ ra trong hình 1. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Giản đồ MO của anata [1] (a)-Các mức AO của Ti và O; (b)-Các mức tách trong trưòng tinh thể; (c)- Trạng thái tương tác cuối cùng trong anata. Các phần đóng góp nhiều hay ít được biểu diễn bằng các đường liền hoặc đường chấm chấm tương ứng.
Vùng hóa trị của anata và rutin nhƣ chỉ ra trên giản đồ là xấp xỉ bằng nhau và cũng rất dƣơng, điều này có nghĩa là chúng có khả năng oxy hóa mạnh. Khi đƣợc kích thích bởi ánh sáng có bƣớc sóng thích hợp, các electron hóa trị sẽ tách khỏi liên kết, chuyển lên vùng dẫn, tạo ra một lỗ trống mang điện tích dƣơng ở vùng hóa trị. Các electron khác có thể nhảy vào vị trí này để bão hòa điện tích tại đó, đồng thời tạo ra một lỗ trống mới ngay tại vị trí 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mà nó vừa đi khỏi. Nhƣ vậy lỗ trống mang điện tích dƣơng có thể tự do chuyển động trong vùng hóa trị.
Các lỗ trống này mang tính oxy hóa mạnh và có khả năng oxy hóa nƣớc thành OH , cũng nhƣ một số gốc hữu cơ khác: TiO2 (h+) + H2O → OH* + H+ + TiO2 (1.1) Vùng dẫn Vùng cấm Vùng hóa trị Rutin Anatata Hình 1. Giản đồ miền năng lượng của anata và rutin [2] Vùng dẫn của rutin có giá trị gần với thế khử nƣớc thành khí hidro (thế chuẩn = 0.00 V), trong khi với anata thì cao hơn mức này một chút, đồng nghĩa với một thế khử mạnh hơn. Theo nhƣ giản đồ thì anata có khả năng khử O2 thành O2‾, nhƣ vậy là anata các electron chuyển lên vùng dẫn có khả năng khử O2 thành O2‾.