CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1.CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH 1.Tổng quan về chất lượng công trình 1. Chất lượng công trình: a. Khái niệm về chất lượng: Hiện nay, người ta đã đưa ra các khái niệm về chất lượng sản phẩm với các câu chữ khác nhau tùy theo mức độ xem xét và góc độ quản lý. + Theo bản chất của chất lượng: Chất lượng là sự chứa đựng đặc trưng, đặc tính vốn có của sản phẩm.
+ Theo TCVN 5814-1994: Chất lượng là tổng hợp các đặc tính của một vật thể ( đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó có khả năng thỏa mãn nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn. Khái niệm về chất lượng công trình xây dựng + Chất lượng công trình xây dựng là tổng thể các thuộc tính của công trình thỏa mãn các yêu cầu sử dụng. + Chất lượng công trình xây dựng là tổng thể các đặc trưng của công trình có khả năng thỏa mãn các yêu cầu đã công bố và tiềm ẩn. + Chất lượng công trình xây dựng là tổng thể các đặc trưng công trình xây dựng, bao gồm các khía cạnh: Sự an toàn và tính bền vững; hòa hợp với môi trường cảnh quan; tính thẩm mỹ và các giá trị văn hóa; các dịch vụ cho người sử dụng; + Chất lượng công trình xây dựng là tập hợp các đặc tính, đặc trưng cho giá trị sử dụng công trình do các giai đoạn hình thành công trình xây dựng quy định và các tổ chức có liên quan đến hình thành công trình xây dựng phải tôn trọng và đảm bảo.
+ Chất lượng công trình xây dựng là những yếu tố về an toàn, bền vững, kỹ thuật, mỹ thuật của công trình phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan theo đúng các điều khoản trong hợp đồng giao thầu xây dựng. Quản lý chất lượng công trình: 4 Chúng ta cần hiểu thêm rằng chất lượng công trình không tự sinh ra và chất lượng cũng không phải là một kết quả ngẫu nhiên, nó là kết quả của sự tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Để đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này. Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng gọi là Quản lý chất lượng.
Phải có hiểu biết và kinh nghiệm đúng đắn về quản lý chất lượng mới giải quyết tốt bài toán chất lượng. Quản lý chất lượng đã áp dụng trong mọi ngành công nghiệp, không chỉ trong sản xuất mà trong nhiều lĩnh vực, trong mọi loại hình công ty, qui mô lớn đến qui mô nhỏ, cho dù có tham gia vào thị trường quốc tế hay không. Quản lý chất lượng đảm bảo cho tổ chức làm đúng những việc phải làm và những việc quan trọng. Nếu các tổ chức muốn cạnh tranh trên thị trường quốc tế, phải tìm hiểu và áp dụng các khái niệm về quản lý chất lượng có hiệu quả.
Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng. Việc định hướng và kiểm soát về chất lượng thường bao gồm lập chính sách, mục tiêu, lập kế hoạch, kiểm soát, bảo đảm và cải tiến chất lượng. Theo quy định 18/2003/QĐ_BXD định nghĩa như sau: Quản lý chất lượng công trình xây dựng là tập hợp những hoạt động của cơ quan có chức năng quản lý thông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng công trình. Các phương pháp quan lý chất lượng.
Quản lý chất lượng theo hệ thống tiêu chuẩn ISO 9000 Hình 1.1: Mô hình quản lý theo tiêu chuẩn ISO 900:2000 5 Đây là hệ thống đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn Quốc tế ISO là tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa Quốc tế ra đời tại Anh năm 1946, có trụ sở ở Geneve Thụy sĩ, ngôn ngữ sử dụng là tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha. - Hệ thống không đưa ra một tiêu chuẩn riêng cho một quá trình, một sản phẩm cụ thể mà chỉ tạo ra khuôn khổ, chuẩn mực cho công tác quản lý chất lượng, coi phòng ngừa là quan trọng, thông qua phát hiện sai sót, duy trì chất lượng trong suốt quá trình thiết kế, sản xuất, sử dụng. Quản lý chất lượng bằng phương pháp quản lý chất lượng toàn bộ. Chất lượng của sản phẩm là tập hợp những tính chất của sản phẩm đã quy định trước và chúng thể hiện mức độ thỏa mãn những nhu cầu của người sử dụng sản phẩm đó.
Quản lý chất lượng toàn bộ có nghĩa là tránh được các khuyết tật, đề phòng khuyết tật hơn là sửa chữa khuyết tật, loại trừ khuyết tật gốc ( không chấp nhận sản phẩm kém chất lượng, lôi cuốn mọi người vào cuộc, còn phương pháp kiểm tra chất lượng chỉ có nhân viên chuyên trách làm) Chất lượng xấu sẽ gây nên các chi phí sửa chữa khuyết tật của sản phẩm và do đó giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Mô hình QLCL theo Hệ thống quản lý chất lượng toàn diện (TQM): - Theo Giáo sư Nhật bản Histoshi Kume (Nhật): “Quản lý chất lượng toàn diện – TQM là một giải pháp quản lý đưa đến thành công, tạo thuận lợi cho tăng trưởng bền vững của một tổ chức thông qua việc huy động hết tâm trí của tất cả các thành viên nhằm tạo ra chất lượng một cách kinh tế theo yêu cầu của khách hàng. - ISO 8402 - 1994 đã nêu: “Quản lý chất lượng toàn diện – TQM là cách quản lý một tổ chức tập trung vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của tất cả các thành viên nhằm đạt được sự thành công lâu dài nhờ vịêc thoả mãn khách hàng và đem lại lợi ích cho các thành viên của tổ chức đó và cho xã hội. CÁC HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CƠ BẢN TRONG DỰ ÁN XÂY DỰNG 1.
Nội dung của quản lý trong xây dựng công trình (XDCT) Quản lý XDCT là việc giám sát, chỉ đạo, điều phối, tổ chức, lên kế hoạch đối với các giai đoạn của XDCT. Mục đích của nó là từ góc độ quản lý và tổ chức, áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện tốt công tác XDCT theo những mục 6 tiêu đề ra như: mục tiêu về giá thành, mục tiêu thời gian, mục tiêu chất lượng. Vì thế làm tốt công tác quản lý là một việc có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Chu trình quản lý XDCT xoay quanh 3 nội dung chủ yếu là: (1) lập kế hoạch, (2) Tổ chức phối hợp thực hiện mà chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí thực hiện và (3) giám sát các công việc của dự án nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
Chi tiết hơn của quản lý XDCT gồm những nội dung sau: - Quản lý phạm vi XDCT: tiến hành khống chế quá trình quản lý đối với nội dung công việc của dự án nhằm thực hiện mục tiêu XDCT,… - Quản lý thời gian XDCT: quản lý thời gian XDCT là quá trình quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo chắc chắn hoàn thành XDCT theo đúng thời gian đề ra. Nó bao gồm các công việc như xác định hoạt động cụ thể, sắp xếp trình tự hoạt động, bố trí thời gian, khống chế thời gian và tiến độ XDCT. - Quản lý chi phí XDCT: là quá trình quản lý chi phí, giá thành dự án nhằm đảm bảo hoàn thành XDCT mà chi phí không vượt quá mức trù bị ban đầu. Nó bao gồm việc bố trí nguồn lực, dự tính giá thành và khống chế chi phí.
- Quản lý chất lượng XDCT: Là quá trình quản lý có hệ thống việc thực hiện XDCT nhằm đảm bảo đáp ứng yêu cầu về chất lượng mà khách hàng đặt ra. Nó bao gồm việc quy hoạch chất lượng, khống chế chất lượng và đảm bảo chất lượng… - Quản lý nguồn nhân lực XDCT: là phương pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo phát huy hết năng lực, tính tích cực, sáng tạo của mỗi người trong XDCT và tận dụng nó một cách hiệu quả nhất. Nó bao gồm các việc như quy hoạch tổ chức, xây dựng đội ngũ, tuyển chọn nhân viên và xây dựng các ban quản lý dự án. - Quản lý việc trao đổi thông tin XDCT: là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo việc truyền đạt, thu thập, trao đổi một cách hợp lý các tin tức cần thiết cho việc thực hiện XDCT cũng như việc truyền đạt thông tin, báo cáo tiến độ XDCT.
- Quản lý rủi ro trong XDCT: Khi thực hiện XDCT có thể sẽ gặp phải những yếu tố rủi ro mà chúng ta không lường trước được. Quản lý rủi ro là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm tận dụng tối đa những yếu tố có lợi không xác định và 7 giảm thiểu tối đa những yếu tố bất lợi không xác định cho XDCT. Nó bao gồm việc nhận dạng, phân loại rủi ro, cân nhắc, tính toán rủi ro, xây dựng đối sách và khống chế rủi ro. - Quản lý việc mua bán của XDCT: là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm sử dụng hàng hóa, vật liệu, máy móc trang thiết bị thu mua được từ bên ngoài tổ chức thực hiện XDCT.
Nó bao gồm việc lên kế hoạch thu mua, lựa chọn việc thu mua và trưng thu các nguồn vật liệu. - Quản lý việc giao nhận XDCT: một số công trình(CT) sau khi thực hiện hoàn thành XDCT, hợp đồng cũng kết thúc cùng với sự chuyển giao kết quả. Công trình mới bước vào giai đoạn đầu vận hành sản xuất nên khách hàng có thể thiếu nhân lực quản lý kinh doanh hoặc chưa nắm vững được tính năng, kỹ thuật của CT, vì thế cần có sự hỗ trợ của đơn vị thi công XDCT, giúp đơn vị tiếp nhận CT giải quyết vấn đề này, từ đó xuất hiện khâu quản lý việc giao – nhận CT. Quản lý việc giao – nhận CT cần có sự tham gia của đơn vị thi công dự án và đơn vị tiếp nhận CT, tức là cần có sự phối hợp chắt chẽ giữa hai bên giao nhận, như vậy mới tránh được tình trạng dự án tốt nhưng hiệu quả kém, đầu tư cao nhưng lợi nhuận thấp.