Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên động vật rừng vô cùng phong phú với 322 loài thú, 887 loài chim, 369 loài bò sát và 176 loài ếch nhái. Tuy nhiên, áp lực săn bắt trái phép và suy thoái môi trường sống đã khiến 94 loài thú bị đe dọa trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007. Trong bối cảnh đó, nghề gây nuôi động vật hoang dã nổi lên như một giải pháp bền vững nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và giảm thiểu sức ép khai thác tự nhiên. Mặc dù cả nước từng ghi nhận 316 trại nuôi và 1.658 hộ tham gia chăn nuôi động vật rừng, nhưng có tới hơn 90% số chuồng trại chưa đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật thâm canh, chủ yếu phát triển tự phát và thiếu dẫn liệu khoa học chuẩn hóa.

Loài Đon (Atherurus macrourus Linnaeus, 1758) thuộc họ Nhím (Hystricidae) là loài gặm nhấm có giá trị thương phẩm cao, trọng lượng cơ thể từ 3 đến 5 kg, chiều dài thân đạt 380 đến 500 mm. Dù được phép gây nuôi sinh sản theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Quyết định 359/1996/TTg, các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật nhân nuôi loài này tại Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp của tác giả Phùng Tiến Lâm, dưới sự hướng dẫn của TS. Vũ Tiến Thịnh tại Trường Đại học Lâm nghiệp, đã tập trung giải quyết lỗ hổng tri thức này.

Nghiên cứu được triển khai từ tháng 6 năm 2012 đến tháng 3 năm 2013 tại Vườn Quốc gia Cúc Phương có diện tích 22.200 ha và Trung tâm Nghiên cứu cứu hộ và Phát triển động vật hoang dã rộng 1.200 m2 tại Xuân Mai, Hà Nội. Đề tài hướng tới mục tiêu cung cấp hệ thống dẫn liệu sinh học, sinh thái và hoàn thiện quy trình kỹ thuật nhân nuôi Đon thương phẩm, từ đó nâng cao tỷ lệ sống của đàn nuôi nhốt đạt trên 90% và mở ra hướng phát triển kinh tế hiệu quả cho người dân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài vận dụng lý thuyết sinh thái học quần thể động vật hoang dã kết hợp cùng lý thuyết dinh dưỡng và sinh lý học thích ứng trong điều kiện nuôi nhốt. Việc chuyển đổi môi trường sống của động vật từ tự nhiên sang nhân tạo đòi hỏi sự tương thích cao giữa điều kiện sinh cảnh và các nhu cầu bản năng của loài.

Nghiên cứu sử dụng mô hình tiếp cận hệ thống ba trục Tự nhiên - Kinh tế - Xã hội để vừa bảo tồn nguồn gen, vừa bảo đảm sinh kế nông hộ. Năm khái niệm cốt lõi được định hình trong khung lý thuyết gồm: sinh cảnh đá vôi đặc trưng, tính chọn lọc dinh dưỡng, tập tính hoạt động ngày đêm, chu kỳ động dục sinh sản và khả năng tăng trưởng sinh khối. Về mặt sinh học, Đon được xác định có đặc điểm hình thái phân biệt rõ ràng với Nhím nhờ bộ lông gai trâm ngắn chỉ từ 70 đến 100 mm, dẹp và thưa hơn, tạo tiền đề cho việc xây dựng mật độ nuôi và thiết kế chuồng trại an toàn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua hai kênh: điều tra thực địa ngoài tự nhiên và thực nghiệm nhân tạo tại trại cứu hộ. Ngoài tự nhiên, nhóm nghiên cứu đã thiết lập 8 tuyến điều tra tại Vườn Quốc gia Cúc Phương kết hợp phỏng vấn bán định hướng cán bộ kiểm lâm và thợ săn giàu kinh nghiệm. Trên các tuyến này, các ô tiêu chuẩn diện tích 1.000 m2 được lập ra tại các sinh cảnh bắt gặp dấu hiệu hang ổ để đo đạc thông số vi khí hậu, địa hình núi đá vôi ở độ cao 400 đến 800 m.

Trong điều kiện nhân tạo, cỡ mẫu nghiên cứu gồm 8 cá thể Đon (4 đực và 4 cái) được chọn lọc có chủ đích theo tiêu chí khỏe mạnh, không khuyết tật. Hai cá thể đại diện mang ký hiệu D001 và D002 được nuôi tách riêng để theo dõi khẩu phần ăn trong 26 ngày liên tục, chia làm 3 đợt thử nghiệm vào các tháng 8, 9, 10 và 11 năm 2012. Chuồng nuôi thực nghiệm được xây dựng với kích thước 2m x 3m x 3m, tường lưới thép mắt 4 cm, nền bê tông dày 8 đến 10 cm và ổ đẻ kích thước 0,5m x 0,4m x 0,3m. Nhóm tác giả thực hiện quan sát liên tục 24 giờ từ khoảng cách tối thiểu 3 m để ghi chép 8 nhóm tập tính. Dữ liệu sau thu thập được xử lý thống kê bằng phần mềm Excel và SPSS nhằm kiểm định phương sai mức tiêu thụ thức ăn và mô hình hóa tốc độ sinh trưởng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về phổ thức ăn, nghiên cứu thử nghiệm 91 loại thực phẩm gồm rau, củ, quả và hạt. Kết quả ghi nhận Đon có khả năng sử dụng 73 loại thức ăn khác nhau, đạt tỷ lệ tiêu thụ 80,2%. Trong đó, có 26 loại thức ăn ưa thích với tỷ lệ ăn sạch trên 80%. Đỗ đũa, củ su hào và củ lạc đạt tỷ lệ tiêu thụ tuyệt đối 100%, ngô đạt 94,8%, bí đỏ đạt 94,4% và khoai tây đạt 95,9%. Ngược lại, Đon từ chối các loại cây nhiều xơ thô, mùi nồng như hành, tỏi, củ riềng với tỷ lệ ăn dưới 10%.

Thứ hai, nghiên cứu đã chuẩn hóa khẩu phần thức ăn bình quân hàng ngày cho một cá thể Đon trưởng thành là 442g. Tỷ lệ phối trộn cân đối bao gồm 170g rau tươi (chiếm 38,5%), 100g hạt ngũ cốc (chiếm 22,6%), 90g quả (chiếm 20,4%) và 80g củ (chiếm 18,1%). Lượng thức ăn thực tế một cá thể tiêu thụ dao động từ 240g đến 475g mỗi ngày.

Thứ ba, về sinh học sinh sản, Đon đạt tuổi thành thục sinh sản từ 8 đến 10 tháng tuổi. Chu kỳ động dục kéo dài 25 đến 30 ngày, thời gian mang thai ước tính từ 90 đến 100 ngày. Mỗi năm Đon cái sinh sản từ 1 đến 2 lứa, mỗi lứa từ 1 đến 3 con non. Con non bú mẹ hoàn toàn trong 25 đến 30 ngày đầu trước khi bắt đầu tập ăn thức ăn cứng.

Thứ tư, về sinh thái và tập tính, Đon phân bố chủ yếu ở rừng tự nhiên trên núi đá vôi ở độ cao 400 đến 800 m, cư trú trong các hang đá tự nhiên dài từ 10 đến 15 m, sâu từ 0,5 đến 1,0 m. Chúng sống thành bầy gia đình từ 5 đến 7 cá thể. Đon hoạt động mạnh nhất vào ban đêm từ 18 giờ đến 5 giờ sáng hôm sau và có mức độ vận động cao nhất vào giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm.

Thảo luận kết quả

Khả năng tiếp nhận đa dạng các sản phẩm nông nghiệp giải thích lý do loài gặm nhấm này thích nghi tốt khi chuyển sang môi trường nuôi nhốt. Tinh bột và đường tự nhiên từ ngô, bí đỏ cung cấp năng lượng trao đổi cao giúp Đon duy trì thân nhiệt và tăng trọng ổn định từ 200 đến 300g mỗi tháng. Dữ liệu này có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu 4 nhóm dưỡng chất và bảng tổng hợp lượng tiêu thụ thức ăn theo từng tháng quan sát.

So sánh với các nghiên cứu của các tác giả quốc tế về loài Đon Châu Phi (Atherurus africanus), loài Đon phân bố tại Việt Nam có tập tính hiền lành hơn, ít cắn phá chuồng và dễ thuần hóa hơn. So với Nhím bờm, Đon có kích thước cơ thể nhỏ hơn khoảng 50%, giúp tiết kiệm đáng kể diện tích chuồng nuôi và chi phí đầu tư ban đầu. Tập tính hoạt động chủ yếu về đêm và phản xạ lẩn trốn nhanh khi có tiếng động lạ khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng hang tổ bằng đá nhân tạo, đặt ở góc khuất ít ánh sáng để giảm căng thẳng cho vật nuôi.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực nghiệm, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp kỹ thuật cụ thể:

Thứ nhất, chuẩn hóa quy cách chuồng trại và ổ đẻ chuyên dụng. Hộ nuôi cần thiết kế chuồng có diện tích tối thiểu 6 m2 (kích thước 2m x 3m x 3m), nền bê tông dốc thoát nước dày 8 đến 10 cm. Bên trong chuồng, xây dựng ổ đẻ bằng gạch hoặc đá kích thước 0,5m x 0,4m x 0,3m có nắp đậy phục vụ vệ sinh, bố trí thêm cành cây gỗ để Đon leo trèo và mài răng. Thời gian hoàn thiện lắp đặt trong vòng 30 ngày trước khi nhập đàn, do chủ cơ sở chăn nuôi trực tiếp thực hiện.

Thứ hai, áp dụng nghiêm ngặt công thức khẩu phần 4 nhóm thức ăn. Người chăn nuôi cần cung cấp đúng 442g thức ăn/cá thể/ngày theo tỷ lệ 170g rau, 100g hạt ngũ cốc, 90g quả và 80g củ. Cho ăn chính vào buổi chiều tối (từ 17 đến 18 giờ) để phù hợp với nhịp sinh học kiếm ăn đêm của loài, giúp giảm tỷ lệ thức ăn ôi thiu dư thừa xuống dưới 5%. Thời gian áp dụng liên tục trong suốt chu kỳ nuôi.

Thứ ba, thiết lập quy trình ghép đôi sinh sản và chăm sóc con non. Kỹ thuật viên trại nuôi cần ghép đôi theo tỷ lệ 1 đực : 1 cái khi cá thể đạt 8 đến 10 tháng tuổi. Cần theo dõi sát chu kỳ động dục 25 đến 30 ngày và tách con đực sang chuồng riêng khi con cái có biểu hiện mang thai ở tháng thứ 2. Cần giữ yên tĩnh tuyệt đối cho ổ đẻ trong 25 ngày đầu sau sinh nhằm đạt mục tiêu sống sót của con non trên 95%.

Thứ tư, thực hiện kiểm soát thú y dự phòng định kỳ. Trạm khuyến nông và bác sĩ thú y cơ sở cần hướng dẫn hộ nuôi tiêu độc khử trùng chuồng trại 1 lần mỗi tuần, định kỳ bổ sung khoáng vi lượng, bột xương và cành cây tươi 2 lần mỗi tháng nhằm ngăn ngừa bệnh mài mòn răng và trầy xước da.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, các chủ trang trại và hộ nông dân khu vực trung du, miền núi. Tài liệu cung cấp trọn bộ hướng dẫn kỹ thuật nuôi thương phẩm, cách tận dụng phụ phẩm nông nghiệp như lá bắp cải, củ sắn để tối ưu hóa chi phí thức ăn dưới 5.000 đồng/ngày/cá thể, giúp tạo mô hình sinh kế mới có lợi nhuận cao.

Thứ hai, cán bộ quản lý tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Các dữ liệu về sinh cảnh sống ở độ cao 400 đến 800 m và cấu trúc hang dài 10 đến 15 m là cơ sở khoa học để xây dựng phương án bảo tồn nguyên vị (in-situ) và đánh giá hiện trạng quần thể Đon ngoài tự nhiên.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu viên và sinh viên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Chăn nuôi - Thú y. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp điều tra 8 tuyến thực địa, thiết kế ô tiêu chuẩn 1.000 m2 và kỹ thuật phân tích tập tính động vật hoang dã bằng SPSS.

Thứ tư, cơ quan kiểm lâm và cán bộ hoạch định chính sách bảo tồn. Công trình cung cấp căn cứ thực tế để hướng dẫn cấp phép cơ sở nuôi sinh sản động vật rừng hợp pháp theo đúng quy định pháp luật hiện hành.

Câu hỏi thường gặp

Kỹ thuật xây dựng chuồng nuôi và ổ đẻ cho Đon cần tuân thủ kích thước nào? Chuồng nuôi tiêu chuẩn cần đạt diện tích 6 m2 với kích thước 2m x 3m x 3m, khung sắt lưới thép mắt 4 cm và nền bê tông dày 8 đến 10 cm. Ổ đẻ bên trong xây bằng đá kích thước 0,5m x 0,4m x 0,3m có nắp mở vệ sinh, đặt ở góc tối nhằm mô phỏng hang tự nhiên sâu 0,5 đến 1,0 m giúp Đon an tâm sinh sản.

Khẩu phần dinh dưỡng hàng ngày cho một cá thể Đon trưởng thành gồm những gì? Mỗi cá thể Đon cần được cung cấp 442g thức ăn mỗi ngày, bao gồm 170g rau tươi, 100g hạt ngũ cốc như ngô, 90g quả như bí đỏ và 80g củ như su hào. Công thức này đáp ứng 80,2% nhu cầu dinh dưỡng tự nhiên của Đon, tận dụng tốt nguồn phụ phẩm nông nghiệp địa phương.

Đon sinh sản vào thời gian nào và mỗi năm sinh được bao nhiêu con non? Đon thành thục sinh sản từ 8 đến 10 tháng tuổi, mùa động dục tập trung vào hai đợt từ tháng 3 đến tháng 4 và từ tháng 10 đến tháng 12. Thời gian mang thai kéo dài 90 đến 100 ngày. Mỗi năm Đon đẻ từ 1 đến 2 lứa, mỗi lứa từ 1 đến 3 con non khỏe mạnh.

Thời điểm nào trong ngày Đon hoạt động mạnh nhất và cần cho ăn khi nào? Đon là động vật hoạt động về đêm, dành phần lớn thời gian ban ngày để ngủ nghỉ trong hang đá. Chúng hoạt động mạnh nhất từ 18 giờ đến 5 giờ sáng hôm sau. Do đó, người nuôi nên cung cấp thức ăn vào khoảng 17 đến 18 giờ hàng ngày để thức ăn luôn tươi ngon.

Làm thế nào để phòng trị các bệnh phổ biến thường gặp ở Đon nuôi nhốt? Đon có sức đề kháng tốt nhưng dễ bị tổn thương da do cắn nhau hoặc rối loạn tiêu hóa khi ăn thức ăn ẩm mốc. Người nuôi cần sát trùng chuồng 1 lần mỗi tuần, cung cấp cành cây cứng để Đon mài răng cửa và bảo đảm nguồn nước uống luôn sạch sẽ, khô ráo.

Kết luận

Tổng kết lại, công trình nghiên cứu mang lại 5 đóng góp khoa học và thực tiễn nổi bật:

  • Xác lập bộ dữ liệu sinh thái chi tiết về sinh cảnh núi đá vôi ở độ cao 400 đến 800 m và tập tính cư trú hang bầy đàn của loài Đon.
  • Xác định danh mục 73 loại thức ăn thích hợp và công thức khẩu phần chuẩn 442g/cá thể/ngày từ nông sản địa phương.
  • Hoàn thiện chỉ số sinh học sinh sản với tuổi thành thục 8 đến 10 tháng và thời gian mang thai từ 90 đến 100 ngày.
  • Chuẩn hóa thiết kế chuồng nuôi bán tự nhiên 6 m2 kết hợp ổ đẻ bằng đá nhân tạo chuyên dụng.
  • Đề xuất quy trình chăm sóc thú y dự phòng định kỳ giúp nâng tỷ lệ sống đàn giống đạt trên 90%.

Luận văn của tác giả Phùng Tiến Lâm là công trình thực nghiệm tiên phong tại Việt Nam làm chủ kỹ thuật nhân nuôi Đon thương phẩm. Trong lộ trình 6 đến 12 tháng tới, các cơ sở chăn nuôi cần tiếp tục thử nghiệm sản xuất thức ăn viên nén công nghiệp và nhân rộng mô hình ra các địa phương. Hãy liên hệ các trung tâm khuyến nông lâm nghiệp để nhận tài liệu hướng dẫn kỹ thuật chi tiết và triển khai mô hình ngay hôm nay.