Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Từ xa xưa, loài người không chỉ khai thác các loài động vật từ thiên nhiên hoang dã, mà còn biết nuôi dưỡng, thuần hóa chúng nhằm chủ động tạo ra nguồn sản phẩm động vật đa dạng, phong phú và chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Theo các tài liệu lịch sử, loài người đã biết bắt các loài động vật hoang dã, thuần dưỡng chúng từ 4-5 nghìn năm trước công nguyên, đến nay chúng ta có một tập đoàn các loài vật nuôi rất đa dạng với hàng ngàn loài và giống gia súc, gia cầm, thủy sản, động vật cảnh.Ngày nay, do nhu cầu ngày càng tăng về các sản phẩm có nguồn gốc từ rừng của xã hội, con người ngày càng tăng cường nhân nuôi, thuần dưỡng các loài động vật hoang dã. Chăn nuôi động vật hoang dã không những mang lại hiệu quả kinh tế cao mà nó còn là giải pháp quan trọng nhằm bảo tồn hoặc cứu nguy các nguồn gen đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Theo Conway (1998), hiện nay tại các Vườn động vật trên thế giới đang nuôi khoảng 500.000 động vật có xương sống ở cạn, đại diện cho 3000 loài chim, thú, bò sát, ếch nhái. Mục đích của phần lớn các Vườn động vật hiện nay là gây nuôi các quần thể động vật quý hiếm, đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, phục vụ tham quan giải trí và bảo tồn đa dạng sinh học. Việc nghiên cứu trong các Vườn động vật cũng đang được chú trọng. Các nhà khoa học đang cố gắng tìm giải pháp tối ưu để nhân giống, phát triển số lượng.
Tuy nhiên về kỹ thuật nhân nuôi, đặc điểm sinh thái và tập tính cũng như việc thả chúng về môi trường tự nhiên có nhiều vấn đề đặt ra cho công tác nhân nuôi cần phải giải quyết. Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan là những quốc gia có nghề nhân nuôi động vật hoang dã rất phát triển. Tuy nhiên những nghiên cứu của nước ngoài 4 về kỹ thuật chăn nuôi rất ít. Một số công trình có thể kể đến như: Từ Phổ Hữu (2001), đã trình bày các đặc điểm hình thái, sinh học và kỹ thuật chăn nuôi (chuồng trại, thức ăn, chăm sóc, bệnh tật và cách phòng tránh…) cho 10 loài rắn độc kinh tế; Vương Kiến Bình (2002), trong Sổ tay nuôi hiệu quả cao các loài rắn đã trình bày những yêu cầu kỹ thuật nuôi rắn đạt hiệu quả kinh tế cao.
Một tác giả người Trung Quốc nữa có thể kể đến là Cao Dực (2002) trong cuốn Kỹ thuật thực hành nuôi dưỡng động vật kinh tế đã trình bày những yêu cầu kỹ thuật cơ bản chăn nuôi nhiều loài thú, chim, bò sát, ếch nhái, bọ cạp, cua, giun đất v. Ngoài ra, còn có nhiều tác giả khác như: Lena C. Larson et al (2001) đã biên tập từ nhiều báo cáo khoa học, kinh nghiệm cá nhân về biện pháp kỹ thuật chăn nuôi, thức ăn, khẩu phần ăn, điều kiện chuồng trại, tập tính hoạt động. của các loài Cu li trong tài liệu “Hướng dẫn kỹ thuật nuôi các loài Cu li Châu Á”.
Đon là loài phân bố rộng, bao gồm Đông Nam Á, Nam Trung Quốc (Wilson 1993; Francis 2008). Tại nhiều quốc gia kể trên Đon được thu bắt trong tự nhiên đã được sử dụng làm thực phẩm từ lâu. Tuy nhiên việc nhân nuôi loài thú này trong điều kiện nuôi nhốt vẫn còn nhiều hạn chế. Loài Đon Châu Phi (Atherurus africanus) cũng đã được nhân nuôi thành công và góp phần đáp ứng nhu cầu thị trường (Joli, 1998) [14].
Các nghiên cứu chăn nuôi động vật hoang dã ở việt Nam Ở nước ta nghề chăn nuôi động vật hoang dã đang ngày càng trở thành một nghề kinh doanh có hiệu quả kinh tế cao. Một số loài động vật hoang dã được nuôi phổ biến là: Hươu sao, Gấu, các loài Khỉ, Nhím, các loài Cầy, Trăn, các loài Rắn độc, Ba ba, Cá sấu, v. Tuy nghề chăn nuôi động vật hoang dã đã hình thành từ lâu nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều yếu kém, quy 5 mô sản xuất nhỏ. Tài liệu chuyên khảo và các công trình nghiên cứu về kỹ thuật nhân nuôi động vật hoang dã ở nước ta còn tương đối ít.
Một trong những công trình nghiên cứu sớm nhất về động vật hoang dã có giá trị kinh tế được xuất bản vào năm 1975 (Đặng Huy Huỳnh và cộng sự, 1975) [12]. Trong tài liệu này, các tác giả đã giới thiệu về hình thái, phân bố, nơi sống, tập tính, thức ăn, đặc điểm sinh sản của các loài động vật hoang dã có giá trị kinh tế cao của tỉnh Hòa Bình như Hươu sao, Nai, Khỉ vàng, Khỉ cộc, Cầy vòi mốc, Cầy vòi hương, v. Tuy nhiên, đây mới chỉ là tài liệu sơ bộ, có tính chất tổng hợp từ các quan sát ngoài thiên nhiên. Phạm Nhật và Nguyễn Xuân Đặng (2000) [19] đã giới thiệu sơ bộ cách nuôi một số loài động vật có giá trị kinh tế cao.
Nhiều loài động vật hoang dã đã trở thành đối tượng chăn nuôi phổ biến, đáp ứng nhu cầu về thực phẩm, dược liệu, da lông, làm cảnh, v. Ví dụ nổi bật nhất là loài Ba ba trơn, Ếch đồng (Ngô Trọng Lư, 2009; Nguyễn Duy Khoát và Phạm Viết Thắng, 1992) và các loài thuộc nhóm Rắn. Cùng trong họ Hystricidae, ở Việt Nam loài Nhím đã được nghiên cứu và nhân nuôi với quy mô rộng lớn, mang lại thu nhập cao cho người nông dân. Tuy nhiên, Đon là loài chưa được quan tâm nghiên cứu.
Ở một số địa phương loài Đon cũng được chăn nuôi tự phát nhưng không mang lại hiệu quả kinh tế do thiếu kiến thức về kỹ thuật chăn nuôi (Đỗ Quang Huy, Lưu Quang Vinh, 2005) [9]. Tình hình nhân nuôi sinh sản động vật hoang dã ở nước ta Nghề nhân nuôi sinh sản động vật hoang dã ở Việt Nam đã xuất hiện từ lâu và đạt được những thành công quan trọng như nuôi Hươu sao, Nai, Khỉ vàng, Trăn, Rắn, Ba ba, Ếch đồng, Cá sấu…Trong những thập niên gần đây, hoạt động gây nuôi sinh sản động vật hoang dã ở Việt Nam cũng gặp phải 6 không ít những khó khăn về cơ chế quản lý, kinh phí đầu tư, kỹ thuật nuôi và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Loài, số lượng nuôi và mục đích nuôi Theo thống kê của Cục Kiểm lâm, hiện nay trên cả nước có khoảng trên 50 loài động vật hoang dã được nuôi. Tính đến năm 2003, cả nước có khoảng 316 trại nuôi và 1.658 hộ gây nuôi động vật hoang dã.
Chắc chắn, con số thống kê trên chưa phản ánh hết thực tế nhân nuôi động vật hoang dã ở Việt Nam hiện nay. Vùng Đông Nam Bộ có số lượng loài động vật gây nuôi lớn nhất với trên 1,2 triệu cá thể, trong đó chủ yếu là Ba ba (1 triệu cá thể), Kỳ tôm, Tắc kè, Liu điu…với khoảng 200. Vùng đồng bằng Sông Hồng có hơn 800.000 động vật hoang dã nuôi, chủ yếu là Rắn, Rùa, Ba ba. Vùng đồng bằng Sông Cửu Long với tổng số trên 37.000 cá thể chủ yếu là các loài Cá sấu, Ba ba, Trăn.
Vùng Tây Nguyên có gần 3000 cá thể, chủ yếu là Ba ba, Cá sấu, Hươu, Nai. Vùng Đông Bắc và Tây Bắc số động vật hoang dã nuôi không đáng kể (Phạm Nhật và Nguyễn Xuân Đặng, 2005) [20]. Hầu hết các loài động vật được gây nuôi nhằm mục đích kinh doanh, chỉ một số ít phục vụ nhu cầu tham quan, du lịch, bảo tồn. Phương thức nuôi Hầu hết các động vật gây nuôi tại các trại và các hộ gia đình đều theo phương thức nuôi nhốt trên đất thổ cư đối với các loài Trăn, Rắn, Ba ba, Hươu, Nai, Gấu, Khỉ, Chồn, Kỳ đà…Hình thức chăn nuôi trong các hộ gia đình chủ yếu dựa vào chăn nuôi quảng canh hoặc bán thâm canh do vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng, vật tư, con giống,.thấp dẫn đến khối lượng hàng hóa sản xuất nhỏ lẻ, tỷ lệ rủi ro cao, chất lượng sản phẩm thấp không đồng đều.
Tuy nhiên hình thức này đã lợi dụng được nguồn lao động nhàn rỗi, đặc biệt ở vùng nông thôn. 7 Đối với các trạm gây nuôi sinh sản thuộc các công ty, doanh nghiệp,.phương thức nuôi nhốt quy mô trang trại là phổ biến. Đối với các trại vệ tinh của các công ty, doanh nghiệp này, các công ty sẽ cung cấp một phần vốn đầu tư nhất định cho cơ sở hạ tầng, giống, thức ăn và các dịch vụ thú y, kỹ thuật,…cho các trại, đồng thời thu mua, tiêu thụ toàn bộ sản phẩm từ các trại vệ tinh này (Phạm Nhật và Nguyễn Xuân Đặng, 2005) [20]. Chuồng trại Chuồng nuôi động vật hoang dã khác nhau theo loài, theo tình trạng kinh tế của người nuôi và tập quán địa phương nhưng phần lớn là chưa đạt yêu cầu kỹ thuật.
Đối với các loài động vật nguy hiểm như rắn, trăn,.chỉ một số ít hộ có diện tích rộng, các khu nuôi, khu ấp trứng mới được đặt cách xa khu gia đình ở trong khi phần lớn các hộ do diện tích chật hẹp, xây dựng khu nuôi ngay trong khu ở của gia đình, do vậy khó đảm bảo được an toàn cho người và vật nuôi đồng thời gây ô nhiễm môi trường do thức ăn của các loài này hầu hết là thịt động vật, lại được lưu trữ trong chuồng hàng tuần trong khi các điều kiện vệ sinh chuồng trại, xử lý ô nhiễm,…tại các trại này hầu như chưa được chú trọng đúng mức. Nhìn chung các mô hình gây nuôi sinh sản tại các hộ gia đình phần lớn các hệ thống chuồng trại, cơ sở hạ tầng phục vụ cho chăn nuôi mang tính tận dụng do thiếu vốn đầu tư, thiếu hiểu biết về điều kiện nuôi dưỡng các loài động vật hoang dã, không đảm bảo an toàn cho người và vật nuôi. Vì vậy, hơn 90% số chuồng nuôi chưa đáp ứng được cho chăn nuôi thâm canh (Đỗ Kim Chung và cs. Thức ăn chăn nuôi động vật hoang dã Việc khai thác nguồn thức ăn đóng vai trò quyết định tính bền vững của hoạt động chăn nuôi cũng như ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.
Thức 8 ăn nuôi động vật hoang dã khác nhau theo từng loài nuôi, lứa tuổi và mục đích nuôi. Điều đáng chú ý là nguồn thức ăn cho hầu hết các loài động vật hoang dã nuôi đều chủ yếu được khai thác từ thiên nhiên. Điều này vừa không chủ động được nguồn thức ăn cho chăn nuôi vừa đe dọa các loài sinh vật có ích khác như cóc, ếch nhái, chim, giun đất,.gây mất cân bằng sinh thái, tăng sâu bệnh hại phá hoại mùa màng.