Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng kết quả học tập sinh viên hệ Vừa làm Vừa học tại ĐH Sư phạm Kỹ thuật

Nghiên cứu sâu về các yếu tố tác động đến kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM. Phân tích thực trạng và

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

159
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng học tập sinh viên VLVH

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM là đề tài mang tính thực tiễn cao. Hệ đào tạo vừa làm vừa học thu hút đối tượng sinh viên là người đã đi làm, có hoàn cảnh đặc thù về thời gian và điều kiện học tập. Các yếu tố được nghiên cứu bao gồm động cơ học tập, mục tiêu học tập, nội dung môn học, phương pháp giảng dạy và điều kiện cá nhân. Kết quả học tập của nhóm sinh viên này chịu tác động đa chiều từ cả yếu tố bên trong lẫn bên ngoài. Động cơ học tập được chia thành động cơ nội sinh và động cơ ngoại sinh. Động cơ nội sinh liên quan trực tiếp đến nhu cầu hiểu biết và sự thỏa mãn từ thành tựu học tập. Động cơ ngoại sinh thường bắt nguồn từ lợi ích nghề nghiệp, thăng tiến công việc. Mục tiêu học tập rõ ràng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự kiên trì và nỗ lực của sinh viên suốt quá trình học. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng kết hợp định tính để phân tích dữ liệu từ mẫu khảo sát thực tế.

1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là sinh viên hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM. Phần lớn sinh viên sống và làm việc tại các tỉnh khác ngoài thành phố Hồ Chí Minh. Nhóm sinh viên này có đặc điểm chung là vừa duy trì công việc vừa tham gia học tập. Họ đến từ hai nguồn đào tạo chính: tuyển sinh mới từ trung cấp và liên thông từ cao đẳng. Mỗi nhóm có nền tảng kiến thức và kinh nghiệm khác nhau, tạo nên sự đa dạng trong kết quả học tập. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các yếu tố tác động đến thành tích học tập chuyên ngành kỹ thuật.

1.2. Mục đích và ý nghĩa của đề tài

Đề tài nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học. Kết quả nghiên cứu giúp nhà trường hiểu rõ hơn về đặc điểm học tập của đối tượng sinh viên này. Từ đó xây dựng chương trình đào tạo phù hợp, cải thiện phương pháp giảng dạy. Đề tài còn cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách giáo dục đại học liên tục. Ý nghĩa thực tiễn nằm ở việc nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của xã hội. Nghiên cứu cũng tạo nền tảng cho các công trình tiếp theo trong lĩnh vực giáo dục học.

II. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập sinh viên VLVH

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên vừa làm vừa học được phân tích thành nhiều nhóm chính. Yếu tố động cơ học tập đóng vai trò nền tảng. Sinh viên có động cơ học tập cao thường thể hiện sự tích cực trong hoạt động học và đạt kết quả tốt hơn. Động cơ nội sinh bao gồm nhu cầu học, ham hiểu biết, sự thỏa mãn từ thành tựu. Động cơ ngoại sinh là kết quả của hoạt động học tập mang lại như thăng tiến, lương thưởng. Nội dung môn học là yếu tố cốt lõi thu hút người học. Khi nội dung phù hợp với nhu cầu công việc, sinh viên tiếp thu kiến thức mới tốt hơn. Phương pháp giảng dạy hấp dẫn của giảng viên tạo hứng thú học tập. Mục tiêu học tập rõ ràng giúp sinh viên duy trì nỗ lực lâu dài. Bốn lý do giải thích vai trò của mục tiêu: tạo hướng đi cụ thể, đo lường tiến bộ, tăng động lực, tối ưu thời gian học. Điều kiện cá nhân như thời gian, sức khỏe, hoàn cảnh gia đình cũng tác động đáng kể đến kết quả học tập của nhóm sinh viên đi làm.

2.1. Vai trò của động cơ và mục tiêu học tập

Động cơ học tập là yếu tố quyết định sự tích cực trong hoạt động học của sinh viên. Động cơ nội sinh thúc đẩy phát triển hoạt động học bền vững. Động cơ ngoại sinh chỉ là tác nhân kích thích, đôi khi làm giảm tính tích cực nếu người học không nhận ra lợi ích thực tế. Mục tiêu học tập rõ ràng là nguồn tạo động cơ quan trọng. Khi sinh viên xác định được mục tiêu cụ thể, họ có hướng đi rõ ràng hơn trong học tập. Mục tiêu giúp đo lường tiến bộ, tăng cường động lực và tối ưu thời gian học. Sự kết hợp giữa động cơ mạnh mẽ và mục tiêu cụ thể tạo nền tảng vững chắc cho kết quả học tập tốt.

2.2. Ảnh hưởng của nội dung và phương pháp giảng dạy

Nội dung môn học là yếu tố cốt lõi lôi kéo hành động học của sinh viên. Để nội dung trở thành động cơ hấp dẫn, người dạy cần thiết kế phù hợp với nhu cầu học và đặc điểm người học. Sinh viên theo học chuyên ngành phù hợp với công việc đang làm sẽ có động cơ cao hơn. Nội dung môn học giúp giải quyết vấn đề phát sinh trong công việc tạo hiệu quả tiếp thu tốt. Phương pháp giảng dạy hấp dẫn của giảng viên đóng vai trò quan trọng. Sự thừa nhận từ giảng viên cũng là đối tượng học tác động đến kết quả học tập. Thiết kế bài giảng gắn liền thực tiễn nghề nghiệp giúp sinh viên liên hệ kiến thức với công việc hàng ngày.

III. Giải pháp nâng cao kết quả học tập cho sinh viên hệ VLVH

Dựa trên kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng, nhiều giải pháp được đề xuất nâng cao kết quả học tập. Về phía nhà trường, cần điều chỉnh chương trình đào tạo phù hợp với đặc thù sinh viên đi làm. Nội dung môn học nên được thiết kế gắn liền với thực tiễn nghề nghiệp. Phương pháp giảng dạy cần đa dạng hóa, kết hợp lý thuyết và thực hành. Về phía giảng viên, cần áp dụng phương pháp dạy tạo hứng thú cho người học. Thiết kế nội dung dạy học phù hợp với nhu cầu và đặc điểm người học. Sự thừa nhận, động viên từ giảng viên giúp tăng cường động cơ học tập. Về phía sinh viên, việc xác định mục tiêu học tập rõ ràng ngay từ đầu rất quan trọng. Xây dựng kế hoạch học tập cụ thể, phân bổ thời gian hợp lý giữa công việc và học tập. Tích cực tham gia các hoạt động học tập nhóm, trao đổi kiến thức. Nhóm liên thông từ cao đẳng có thế mạnh kiến thức nền tảng, tiếp thu nhanh kiến thức mới. Nhóm tuyển sinh mới cần bổ sung kiến thức cơ bản và ngành nghề nhiều hơn.

3.1. Giải pháp từ phía nhà trường và giảng viên

Nhà trường cần xây dựng chương trình đào tạo linh hoạt cho hệ vừa làm vừa học. Lịch học nên sắp xếp phù hợp với thời gian làm việc của sinh viên. Nội dung môn học cần cập nhật, gắn liền với yêu cầu thực tế nghề nghiệp. Giảng viên đóng vai trò then chốt trong việc tạo hứng thú học tập. Phương pháp giảng dạy nên kết hợp nhiều hình thức: thuyết trình, thảo luận, làm dự án. Thiết kế bài giảng sao cho phù hợp với nhu cầu học của người học. Sự hỗ trợ, tư vấn học tập kịp thời giúp sinh viên vượt qua khó khăn. Nhà trường cần tăng cường cơ sở vật chất, tài liệu học tập phục vụ sinh viên VLVH.

3.2. Giải pháp từ phía sinh viên hệ vừa làm vừa học

Sinh viên cần xác định rõ mục tiêu học tập trước khi bắt đầu chương trình đào tạo. Mục tiêu cụ thể giúp duy trì động lực và nỗ lực trong suốt quá trình học. Xây dựng kế hoạch học tập chi tiết, phân bổ thời gian hợp lý giữa công việc và học tập. Tận dụng kinh nghiệm làm việc để liên hệ với kiến thức chuyên ngành. Tham gia tích cực các hoạt động học tập nhóm, trao đổi bài vở với bạn học. Nhóm liên thông từ cao đẳng nên phát huy thế mạnh kiến thức nền tảng sẵn có. Nhóm tuyển sinh mới cần chủ động bổ sung kiến thức cơ bản, kiến thức ngành. Duy trì sức khỏe và tinh thần học tập tốt là yếu tố quan trọng.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu yếu tố học tập

Nghiên cứu đã xác định được các yếu tố chính ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM. Động cơ học tập, mục tiêu học tập, nội dung môn học và phương pháp giảng dạy là những yếu tố có tác động显著 đến thành tích học tập. Phần lớn sinh viên là người đang sống và làm việc tại các tỉnh khác ngoài thành phố Hồ Chí Minh. Sinh viên theo học chuyên ngành phù hợp với công việc có động cơ học tập cao hơn và kết quả tốt hơn. Nội dung môn học giúp giải quyết vấn đề trong công việc tạo hiệu quả tiếp thu kiến thức mới. Nhóm liên thông từ cao đẳng có thế mạnh kiến thức nền tảng, tiếp thu nhanh và đạt kết quả tốt ở các môn thực hành. Nhóm tuyển sinh mới từ trung cấp có lượng kiến thức cơ bản và ngành nghề hạn chế hơn. Kết luận này cung cấp cơ sở khoa học cho việc cải thiện chất lượng đào tạo hệ vừa làm vừa học.

4.1. Kết luận chính từ nghiên cứu

Nghiên cứu xác nhận động cơ học tập là yếu tố nền tảng quyết định kết quả học tập. Động cơ nội sinh có tác dụng thúc đẩy hoạt động học bền vững hơn động cơ ngoại sinh. Mục tiêu học tập rõ ràng tạo nguồn động lực quan trọng cho sinh viên. Nội dung môn học phù hợp với nhu cầu công việc giúp tăng hiệu quả tiếp thu. Phương pháp giảng dạy hấp dẫn của giảng viên tạo hứng thú học tập. Hai nhóm sinh viên có đặc điểm khác nhau dẫn đến kết quả học tập khác nhau. Nhóm liên thông từ cao đẳng đạt kết quả tốt hơn ở các môn thực hành, đồ án. Nhóm tuyển sinh mới từ trung cấp cần được hỗ trợ thêm kiến thức nền tảng.

4.2. Ứng dụng và hướng phát triển tiếp theo

Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trong việc cải thiện chương trình đào tạo hệ vừa làm vừa học. Nhà trường có thể xây dựng lộ trình học tập phù hợp cho từng nhóm sinh viên. Chương trình hỗ trợ kiến thức nền tảng cho nhóm tuyển sinh mới từ trung cấp cần được tăng cường. Hướng phát triển tiếp theo là mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các trường đại học khác. Nghiên cứu sâu hơn về tác động của từng yếu tố cụ thể đến kết quả học tập. Khảo sát thêm các biến số như công nghệ hỗ trợ học tập, môi trường học trực tuyến. Áp dụng mô hình nghiên cứu định lượng phức tạp hơn để phân tích mối quan hệ nhân quả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học của trường đại học sư phạm kỹ thuật tp hcm

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC 1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Ở nước ngoài Để có được kết quả học tập theo mong đợi, người học là sinh viên phải chịu sự tác động từ nhiều yếu tố khác nhau. Theo nghiên cứu của tác giả Evans (1999) cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên được chia thành 6 nhóm khác nhau như: (1) đặc trưng nhân khẩu sinh viên; (2) đặc trưng tâm lý sinh viên; (3) kết quả học tập trước đây; (4) các yếu tố xã hội; (5) các yếu tố tổ chức; (6) các yếu tố thành quả.

Trong nhóm các yếu tố tổ chức, tác giả Evans (1999) đã đề cập đến các yếu tố như: sự hứng thú học tập của sinh viên; nội dung môn học; cơ sở vật chất; không gian phòng học; phương pháp giảng dạy của giảng viên; phẩm chất giảng viên; phong cách giảng dạy; sự quan tâm của giảng viên đến sinh viên; hình thức kiểm tra đánh giá kết quả môn học và nhiều yếu tố khác [19]. Một nghiên cứu của Peart, N. Ngoài ra, theo John Dewey (1859 - 1952) cho rằng, để người học có kết quả tốt cần phải có sự kết hợp giữa học lý thuyết và thực hành “người học chỉ tìm thấy ý 5 nghĩa của kiến thức một khi chúng được kiểm nghiệm qua thực tế” (dẫn từ Jon Wiles Joseph Bondi, 2002). Từ đó, ngoài việc vận dụng hợp lý các phương pháp và phong cách giảng dạy của giảng viên trong từng nội dung môn học trong nhà trường cần phải trang bị đầy đủ các trang thiết bị học tập và thực hành giúp sinh viên hứng thú trong học tập và lĩnh hội hiệu quả khối lượng kiến thức đã được học [21].

Mặt khác, một nghiên cứu của Agyeman (1993) cho rằng, kết quả học tập còn ảnh hưởng bởi sự đồng nhất giữa trình độ chuyên môn của giảng viên và trang bị cơ sở vật chất, bởi điều kiện thuận lợi về cơ sở vất chất, môi trường học tập sẽ giúp giảng viên có hứng thú hơn và sẽ có thể phát huy hết khả năng vốn có để truyền đạt hết kiến thức của mình “một giáo viên có trình độ chuyên môn nhưng làm việc trong điều kiện không thuận lợi sẽ giảm nhiệt huyết trong công việc, dẫn đến làm giảm năng suất hơn một giáo viên chưa đủ tiêu chuẩn nhưng làm việc trong điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất” [26]. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Markley (2006) đã chỉ ra rằng, vai trò của giảng viên là quan trọng làm ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên, giảng viên không chỉ đứng trước lớp để trình bày nội dung môn học mà còn thể hiện khả năng hỗ trợ đối người học, gần gũi và kết nối người học từ đó giúp người học tiếp nhận được một nền giáo dục có chất lượng [22]. Ngoài sự quan tâm đến các yếu tố như cơ sở vật chất, không gian phòng học, nội dung môn học, phương pháp giảng dạy, phẩm chất giảng viên và phương pháp kiểm tra đánh giá môn học của nhiều tác giả trên, cần phải quan tâm đến sự tương tác giữa giảng viên và sinh viên thông qua hoạt động đánh giá của sinh viên về hoạt động dạy và học. Trong bài viết “Cải thiện kết quả học tập của sinh viên thông qua đánh giá” của Ciara O’Farrell (2004), tác giả cho rằng khi học ở cấp càng cao thì giữa giảng viên và sinh viên càng thiếu đi sự tương tác, chính vì vậy mà vai trò của hoạt động đánh giá sẽ giúp thầy và trò có sự tương tác tốt hơn [20, tr.

Theo một nghiên cứu khác của nhóm tác giả (Edward et al.,2002; Aspin & Chapman 2007; Barnett 2006; Rizvi 2007; Walker 2012) cho rằng người học cần phải có các phẩm chất tự chủ, trung thực, can đảm và thích nghi để có thể con người 6 phát triển và học tập suốt đời, cụ thể: (1) Tự chủ: độc lập trong tư duy, và hành động, có tư duy phê phán, có khả năng phán xét, kiểm soát và tự điều chỉnh tư duy và hành động của mình; biết mình là ai, biết thể hiện mình trong các hoàn cảnh khác nhau; (2) Trung thực và can đảm: hành xử một cách chính trực, trung thực trong học tập và cuộc sống, là người dám làm dám chịu; (3) Thích nghi: có khả năng thích ứng, thay đổi bản thân theo chiều hướng tích cực và đương đầu với những thay đổi và thử thách trong cuộc sống, linh hoạt trong các tình huống, có khả năng giao tiếp, hợp tác tốt với người khác [12]. Ở Việt Nam Tại Việt Nam, kết quả học tập của sinh viên được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra được các nguyên nhân và biện pháp giúp cải thiện tích cực kết quả hoạc tập của sinh viên, cụ thể như: Kết quả học tập của sinh viên trong giai đoạn chuyên ngành chịu ảnh ảnh hưởng bởi mức độ tham khảo tài liệu, thời gian tham gia học tập tại lớp, thời gian tự học [11]. Để nâng cao kết quả học tập, sinh viên cần thay đổi phương thức học tập, theo đó học tập theo nhóm sẽ mang lại hiệu quả học tập cao hơn. Học tập theo nhóm đã trở thành một phương thức có tính nguyên tắc của sư phạm tương tác, trong đó giảng viên là người hướng dẫn, sinh viên là người hành động, là chủ thể của quá trình học tập.

Trong môi trường học nhóm sinh viên được tạo điều kiện phát triển tích cực, chủ động tự giác, tự tin, sáng tạo trong học tập [7]. Đồng quan điểm trên, trong cuốn Lý luận dạy học của Đặng Vũ Hoạt (2015) đã nhấn mạnh, trong nhà trường hiện đại trò phải là trung tâm, là chủ thể tích cực các hoạt động, không ngừng phát huy tính độc lập, sáng tạo trong học tập, rèn luyện, tu dưỡng nhằm biến những yêu cầu khách quan thành nhu cầu phát triển chủ quan. Để thực hiện được điều này, giảng viên phải là người tổ chức, định hướng, điều khiển, là người cố vấn, sinh viên phải là người tích cực trong các hoạt động [6]. 7 Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Mai Trang (2008) cho thấy, kiến thức thu thập được của sinh viên còn ảnh hưởng bởi động cơ học tập của sinh viên và năng lực giảng viên [17].

Cũng nghiên cứu của Nguyễn Hạ Vũ (2016) về yếu tố chủ quan của sinh viên, một số điểm được cho là nguyên nhân dẫn đến kết quả học tập yếu kém và thôi học của sinh viên, được xếp theo thứ tự ưu tiên như sau: (1) Chưa biết sắp xếp, quản lý thời gian học tập; (2) Chưa tìm ra phương pháp học tập phù hợp; (3) Thụ động, nhút nhát, không tự tin vào bản thân; (4) Kiến thức bị hạn chế so với yêu cầu của môn học; (5) Làm việc thêm nhiều quá ; (6) Kinh phí không đủ cho học tập, sinh hoạt; (7) Thiếu điều kiện học tập tại nhà/nơi trọ; (8) Sức khỏe không tốt (không tập trung học được) [18]. Ngược lại, theo tác giả Nguyễn Thị Huyền (2016) cho rằng, các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực tự học của sinh viên Năng lực tự học; Động cơ học tập; Hứng thú học tập và hứng thú nghề nghiệp; Thái độ học tập; Vốn kiến thức nền tảng; Kinh nghiệm tự học; Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động tự học của SV; Điều kiện kinh tế gia đình; Phong trào tự học của lớp; Môi trường học thuật (các hội nghị, hội thảo, cuộc thi chuyên môn); Các hoạt động tập thể của lớp và của trường [9]. Nhìn chung, các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập được sự quan tâm từ nhiều tác giả trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu cho thấy kết quả học tập của sinh viên chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau và mức độ ảnh hưởng cũng khác nhau.

Các yếu tố đó có thể được phân loại thành hai nhóm yếu tố chính. (1) Nhóm yếu tố chủ quan thuộc về sinh viên (Tâm lý độ tuổi, gia đình, mục tiêu học tập, động cơ học tập, thái độ học tập tích cực của sinh viên. (2) Nhóm yếu tố khách quan từ giảng viên (Phẩm chất của giảng viên, Phương pháp giảng dạy.), nhà trường. Tuy nhiên, chưa nhiều những nghiên cứu đối với đối tượng là sinh viên thuộc hệ Vừa làm vừa học (hệ tại chức cũ).

Sinh viên hệ đào tạo này là những người trưởng thành, đang phải tham gia lao động, phí để tham gia học tập có được bằng cách tích lũy thu nhập từ thu nhập chứ không từ phụ cấp của cha mẹ và một số đã 8 lập gia đình. Do đó ngoài những yếu tố kể trên, kết quả học tập của sinh viên Vừa làm vừa học có thể chịu ảnh hưởng từ những yếu tố khách quan khác.2 Tổng quan về hệ đào tạo đại học theo hình thức Vừa làm vừa học 1. Đặc điểm đào tạo theo hình thức Vừa làm vừa học Đào tạo Vừa làm vừa học là một bộ phận thực hiện các chương trình đào tạo trình độ đại học có cấp văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân. Đối với xã hội, đây là hình thức đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, nhu cầu muốn nâng cao trình độ của người dân, là giải pháp đại học dành cho người lao động.

Đặc trưng cơ bản của các lớp Vừa làm vừa học là được tổ chức dạy và học theo đợt; việc triển khai đào tạo được thực hiện tại trường chính và ngoài trường thông qua việc liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại địa phương. Đặc điểm nổi bật của sinh viên hình thức đào tạo Vừa làm vừa học (đặc biệt là loại hình liên thông Vừa làm vừa học) là người học đã có vốn kiến thức nghề nghiệp nhất định, phù hợp với ngành đang được đào tạo, hai quá trình học tập và lao động được diễn ra song song với nhau. Cũng vì vậy mà người học có thể kết hợp được cả hai nhu cầu: học để tích lũy thêm, làm giàu kiến thức, có thể vận dụng ngay vào công việc, vừa có thể lấy văn bằng để có thể phát triển sự nghiệp trong tương lai .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ