chương 1, tác giả giới thiệu sơ lược về Lý do chọn đề tài, Mục tiêu nghiên cứu và Câu hỏi nghiên cứu. Bên cạnh đó, Đối tượng, Phạm vi và Phương pháp nghiên cứu cũng được chỉ rõ nhằm làm tiền đề cho các chương tiếp theo. CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 2.1 Các khái niệm định nghĩa có liên quan 21.1 Cạnh tranh Hiện nay, thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, thương mại,. và được xem là một phạm trù kinh tế.
Thuật ngữ này còn được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, ngành hay quốc gia,. Chính vì vậy, cạnh tranh là một khái niệm không chỉ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực mà còn được nhận định dưới nhiều quan điểm và góc độ khác nhau. Samuelson và cộng sự (1998) định nghĩa rằng, cạnh tranh là sự đối đầu để giành khách hàng hoặc thị trường giữa các doanh nghiệp (Martinez và Reboredo, 2003). Còn Porter (1990) thì nhận định dưới góc nhìn bao quát hơn, cho rằng cạnh tranh là đấu tranh giành lấy thị phần, khách hàng hay nguồn lực của các doanh nghiệp.
Nhưng bản chất không phải là tiêu diệt đối thủ mà là mang lại những giá trị mới hơn hoặc cao hơn để khách hàng chọn doanh nghiệp mình thay vì đối thủ cạnh tranh (Porter, 1990). Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh nhưng theo Lê Thị Thanh Hương (2019) thì các định nghĩa trên đều có đặc điểm sau: Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các tổ chức hay cá nhân với mục đích giành phần chiến thắng (Lê Thị Thanh Hương, 2019).2 Nâng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là một chủ đề rất được quan tâm vì có tầm quan trọng đặc biệt không chỉ với các nhà hoạch định chính sách mà còn đối với doanh nghiệp. Dù có tầm quan trọng trong nhiều khía cạnh, nhưng nó vẫn còn thiếu một định nghĩa thống nhất, tất cả những cách tiếp cận về kinh tế vi mô cũng như kinh tế vĩ mô đều có định nghĩa về năng lực cạnh tranh khác nhau (Porter và Ketels, 2003). Hơn nữa, năng lực cạnh tranh là một khái niệm đa chiều và được xem xét từ ba cấp độ: Quốc gia; Ngành và Doanh nghiệp.
Trong nghiên cứu này, tác giả tiếp cận năng lực cạnh tranh dưới cấp độ doanh nghiệp. 6 Theo Schwab và cộng sự (2006), năng lực cạnh tranh bao gồm các thể chế, chính sách và các nhân tố quyết định đến năng suất của một vùng lãnh thổ. Nó bao gồm cả mức độ tăng trưởng và khả năng tăng trưởng bền vững của nền kinh tế (Schwab và Porter, 2006). Còn Report (1985) thì cho rằng, một doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh khi có thể sản xuất sản phẩm, dịch vụ vói chất lượng vượt trội, giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh cả trong và ngoài nước.
Mặt khác, khả năng cạnh tranh còn đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đạt được lợi ích lâu dài, đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp (Report, 1985). Porter (1980) thì nhận định rằng năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh. Đó là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp với mục đích tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ nhằm chiếm lĩnh thị phần, tạo thu nhập cao và phát triển bền vững. Porter cũng lưu ý rằng, nếu một doanh nghiệp chỉ tập trung vào mục tiêu tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm thì không đảm bảo có được sự thành công lâu dài, mà điều quan trọng nhất là phải xây dựng được lợi thế cạnh tranh bền vững (Porter, 1980).
Trong nghiên cứu của mình về lý thuyết cạnh tranh, Porter đề xuất mô hình 5 áp lực cạnh tranh và cho rằng bất kỳ ngành nghề kinh doanh nào cũng có 5 nhân tố tác động là: (1) Sự cạnh tranh giữa các công ty đang tồn tại; (2) Mối đe dọa từ đối thủ mới gia nhập thị trường, (3) Nguy cơ từ các sản phẩm thay thế, (4) Vai trò của các doanh nghiệp bán lẻ và (5) Quyền lực từ các nhà cung ứng.3 Một so yếu to ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Có nhiều khung lý thuyết để nghiên cứu và phân tích năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp, bao gồm cả các yếu tố bên trong và bên ngoài. Trong đó, lý thuyết nguồn lực cạnh tranh được đề xuất và phát triển bởi Wernerfelt (1984) và Grant (1991) đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới vận dụng để phân tích các yếu tố nội tại góp phần tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh năng động và luôn thay đổi. ỉ Các yếu tố bên trong doanh nghiệp Theo Grant (1991), nguồn lực của doanh nghiệp thể hiện ở nhiều dạng khác nhau và chia thành hai nhóm: Nguồn lực hữu hình và Nguồn lực vồ hình. Trong đó, Nguồn lực hữu hình bao gồm nguồn lực về tài chính và vật chất hữu hình.
Nguồn lực vô hình bao gồm công nghệ, danh tiếng và nhân lực của 7 doanh nghiệp. Cụ thể: Nguồn lực hữu hình: Bao gồm Nguồn lực về tài chỉnh (Vốn tự có và khả năng vay vốn của doanh nghiệp) và Nguồn lực vể vật chất hữu hình (Những tài sản sản xuất hữu hình của doanh nghiệp có thể đem lại lợi thế về chi phí sản xuất như quy mô, vị trí, kỹ thuật, nguyên vật liệu đầu vào, tính linh hoạt của nhà máy, trang thiết bị). Nguồn lực vô hình: Bao gồm Nguồn lực vể công nghệ (Sở hữu trí tuệ, bằng phát minh, sáng chế,.), Nguồn lực về danh tiếng (Bao gồm việc sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng về dịch vụ, chất lượng, độ tin cậy, thiết lập được mối quan hệ tốt với khách hàng, nhà cung ứng, ngân hàng và chính quyền,.) và Nguồn lực vể nhân sự (Kiến thức, kỹ năng, năng lực của nhân viên vói tính linh hoạt trong chiến lược, lòng trung thành của nhân viên,. Theo Teece, Pisano và Shuen (1997), nguồn lực của doanh nghiệp chính là yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Và các doanh nghiệp cùng ngành thường tung ra chiến lược kinh doanh riêng mà đối thủ khó sao chép được và nó phụ thuộc vào chính nguồn lực của doanh nghiệp đó (trích bởi Huỳnh Thanh Nhã và La Hồng Liên, 2015).2 Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp Dựa trên mô hình kim cưong của Porter (1990), Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đưa ra các nhân tố bên ngoài tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với 56 chỉ tiêu thuộc 4 nhóm yếu tố như dưới đây. Cụ thể: Các điều kiện yếu tố đầu vào: Kết cấu hạ tầng vật chất - kỹ thuật; Hạ tầng hành chính; Nguồn nhân lực; Hạ tầng công nghệ và Thị trường tài chính. Các điều kiện về cầu: Sở thích của khách hàng, tình hình pháp luật về tiêu dùng, về công nghê thông tin,. Các ngành cung ứng và ngành liên quan: Chất lượng và số lượng các nhà cung ứng địa phương, khả năng tại chỗ về nghiên cứu chuyên biệt và dịch vụ đào tạo, mức độ hợp tác giữa các khu vực kinh tế, khả năng cung cấp tại chỗ các chi tiết và phụ kiện máy móc,.
Bối cảnh chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp: Động lực và cạnh tranh (các rào cản vô hình, sự cạnh tranh từ các nhà sản xuất địa phương, hiệu quả của việc chống độc quyền,. Tóm lại, năng lực cạnh tranh không phải là khái niệm một chiều mà cần xem xét dưới nhiều góc độ. 8 Barclay (2005) và Williams (2007) nhận định rằng doanh nghiệp cần phải xác định được những yếu tố này vì nó rất quan trọng để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Đó là Sự đồi mới, Các tiêu chuẩn quốc tế, Khả năng lãnh đạo, Tập trung chất lượng và Đáp ứng cạnh tranh.
Trong bài nghiên cứu này, năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, nhằm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng với mục tiêu đạt lợi nhuận tối ưu nhất và đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.2 Các mô hình lý thuyết có liên quan 2.1 Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter (Porter's Five Forces) Mô hình 5 áp lực cạnh tranh được phát triển bởi nhà hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới_ Michael Porter. Ông cho rằng ngành kinh doanh nào cũng chịu tác động của năm lực lượng cạnh tranh là: (1) Các đoi thủ cạnh tranh trong ngành (Industry competitors): Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp buộc họ phải lao vào cuộc chiến về giá, chi phí quảng cáo, khuyến mãi,. (2) Các đối thủ tiềm năng (Potential competitors): Doanh nghiệp buộc phải đầu tư liên tục vào việc tạo ra các rào cản thị trường cao nhằm ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh mới gia nhập ngành. (3) Khách hàng (Buyers): Khách hàng thường có vị thế mặc cả, tính nhạy cảm đối với giá, thông tin, sự đặc trưng của nhãn hiệu, sự khác biệt hóa sản phẩm, mức độ san có của hàng hóa thay thế, động co của khách hàng.
(4) Sản phấm thay the (Substitutes): Nhiều ngành nghề đã từng biến mất khi xuất hiện sản phẩm thay thế. Chính vì vậy, sản phẩm thay thế cũng là một áp lực cạnh tranh không hề nhỏ. (5) Nhà cung ứng (Suppliers): Sự hùng mạnh của hệ thống phân phối và bán lẻ có tác động rất lớn đến việc ấn định giá cả sản phẩm, những nhà sản xuất không thể tùy tiện tăng giá.1 Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter Ngụồn: Porter (1980) 2.2 Mô hình Kim cương của Michael Porter (Porter’s Diamond Model) 10 Hình 2.2 Mô hình Kim cương của Michael Porter Nguồn: Porter (1990) Mô hình phân tích và đưa ra 4 nhân tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh, đồng thời đánh giá mức độ lành mạnh trong môi trường kinh doanh vi mô của một quốc gia hay vùng lãnh thổ. Cụ thể: (1) Chiến lược vững chắc, cấu trúc và sự cạnh tranh: Các quy định, cơ chế khuyến khích, mức độ cạnh tranh của địa phương ảnh hưởng lớn đén chính sách thúc đẩy năng suất.
(2) Các điều kiện cầu: Nhu cầu thị trường ảnh hưởng đến quy mô và sự tăng trưởng của thị trường liên quan đến tính chất khách hàng. Nhìn chung, môi trường kinh doanh lành mạnh sẽ có mức cầu cao từ những nhóm khách hàng địa phương có tính chất phức tạp. Do đó, để thành công thì các doanh nghiệp phải cung cấp hàng hóa và dịch vụ có chất lượng cao hơn.