LỜI MỞ ĐẦU Việt Nam là nƣớc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ẩm ƣớt quanh năm. Đây là điều kiện thuận lợi cho thảm thực vật phát triển phong phú và đa dạng. Trong đó, có nhiều loài thực vật không chỉ có ý nghĩa trong hệ sinh thái, môi trƣờng, nông lâm nghiệp mà còn có những đặc tính dƣợc lý rất quí báu và đã đƣợc sử dụng trong nền y học cổ truyền và vào các mục đích khác nhau phục vụ đời sống của nhân dân ta. Việc tìm kiếm, phát hiện và nghiên cứu các hợp chất có nguồn gốc thiên nhiên, có hoạt tính sinh học cao để ứng dụng trong y dƣợc là một trong những nhiệm vụ quan trọng đã và đang đƣợc các nhà khoa học trong nƣớc và quốc tế đặc biệt quan tâm.
Nó đặt cơ sở khoa học cho việc sử dụng nguồn nguyên liệu thiên nhiên một cách hợp lý và hiệu quả. Trong Y học hiện đại nhiều hợp chất thiên nhiên đƣợc phân lập từ cây thuốc đã đƣợc ứng dụng rộng rãi trong việc chữa bệnh, theo báo cáo hàng năm của chuyên ngành Hoá y cho thấy 60% thuốc đƣợc chấp thuận điều trị bệnh cho con ngƣời có nguồn gốc thiên nhiên, trong đó 77% xuất phát từ cây thuốc dân tộc [28]. Trong tài nguyên thực vật của Việt Nam thì Gừng là một cây rất quen thuộc, nó đƣợc xem là nguồn nguyên liệu có giá trị để làm gia vị trong chế biến thực phẩm và làm thuốc chữa bệnh. Một trong những loài có giá trị thuộc chi Gừng đó là cây Gừng lông hung (Zingiber rufoliposum Gagn.) và cây gừng Zingiber sp.
Gừng lông hung mới tìm thấy ở Tuyên Quang ( Na Hang), Phú Thọ (Xuân Sơn), Hoà Bình (Mai Châu), Hà Nội (Ba Vì), Đăk Lăk. Đây là một trong những cây thuốc dân tộc đƣợc dùng để chữa bệnh và là một loài Gừng quí hiếm cần đƣợc bảo tồn gen theo quyết định số 80/2005/BNN của Bộ Nông nghiệp. Cây Gừng Zingiber sp. đƣợc tìm thấy ở tỉnh Lâm Đồng, nó có mùi thơm đặc trƣng nhất trong chi gừng.
Để góp phần làm tăng thêm sự hiểu biết về thành phần hoá học và hoạt tính sinh học trong nguồn thực vật phong phú, quí giá của Việt nam, chúng tôi chọn cây Gừng lông hung và cây gừng Zingiber sp. làm đối tƣợng nghiên cứu và đây là loài lần đầu tiên đƣợc nghiên cứu tại Việt Nam. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1- TỔNG QUAN 1.TỔNG QUAN VẾ CHI GỪNG (ZINGIBER) 1. Họ gừng và chi gừng Họ Gừng (Zingibeaceae) có nhiều chi và nhiều loài khác nhau.
Hầu hết các cây thuộc họ Gừng chủ yếu phân bố ở các nƣớc Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản … Theo các tác giả Võ Văn Chi và Dƣơng Đức Tiến đã tổng kết họ Gừng có 45 chi gồm hơn 1300 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Ở Việt Nam, họ Gừng có 12 chi và 61 loài đƣợc phân bố rải rác từ Bắc vào Nam [1], [2]. Họ Gừng (Zingiberaceae) gồm những cây thân thảo sống nhiều năm, mọc ở nơi đất ẩm, nơi sáng, dƣới tán rừng hay vách đá ẩm. thân đƣợc tạo thành do các bẹ lá ôm chặt lấy nhau tạo thành thân giả, cao 1-3-4(-5) m hay mảnh, cao dƣới 1m hoặc rất ngắn hay không có do các bẹ lá rời đến gốc (Distichochlamys, Kaempferia…), thân giả không phân nhánh.
Rễ nhỏ, hình sợi, đôi khi đầu dễ phình to thành dạng củ (Curcuma, Kaempfria, Stahlianthus…), ở một số loài, rễ thẳng, cứng, đâm sâu xuống đất, phần trên lộ trên mặt đất. Thân rễ (thƣờng đƣợc gọi là củ) to, nạc, nằm ngang dƣới mặt đất. Cây thƣờng có chứa mùi thơm, đôi khi mùi hắc nhƣ một số loài trong chi Gừng (Zingiber). Chi Gừng (Zingiber) có khoảng 100 loài, phân bố chủ yếu ở các khu vực nhiệt đới Châu Á và Châu Úc.
Các nƣớc Đông Nam Á là nơi trung tâm phong phú và đa dạng nhất của chi Gừng. Riêng ở Trung Quốc hiện đã thống kê khoảng trên 20 loài. Nƣớc ta có nền khí hậu nhiệt đới gió mùa, thảm thực vật đa dạng và phong phú đặc biệt là các cây tinh dầu và cây thuốc. Riêng với chi Gừng, Phạm Hoàng Hộ (1993) đã thống kê gồm 12 loài [10].
Trong những năm gần đây phát hiện thêm một loài Gừng nữa có tên Gừng môi tím đốm (Zingiber penisulare I. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Các loại Gừng Việt Nam Stt Tên khoa học Tên Việt Nam Phân bố 1 Zingiber officinale Roscoe Gừng Phân bố rộng 2 Zingiber acuminatum Valeton Gừng nhọn Tây Nguyên, Trung Bộ 3 Zingiber cochinchinesis Gagn. Gừng Nam Bộ Bà Rịa- Vũng Tàu 4 Zingiber eberhardtii Gagn. Gừng Eberhardt Lâm Đồng 5 Zingiber gramineum Bl.
Gừng lúa, Ngải trặc Biên Hòa 6 Zingiber monophyllum Gagn. Gừng một lá Ninh Bình 7 Zingiber pellitum Gagn. Gừng bọc da Bà Rịa 8 Zingiber purpureum Roscoe Gừng tía (gừng dại) Phân bố rộng 9 Zingiber rubens Roxb. Gừng đỏ Lâm Đồng 10 Zingiber rufopilosum Gagn.
Gừng lông hung Ba vì (Hà nôi), Vĩnh phúc 11 Zingiber zerumbet (L. Gừng gió Phân bố rộng 12 Zingiber penisulare I. Theilade Gừng môi tím đốm Sơ Pai, Kban, Gia lai, Đặc điểm thực vật của chi Gừng Cây thảo, sống nhiều năm, cao 0,5-3,5 m. Thân rễ mập phân nhánh nhiều, tạo thành “củ” nằm ngang trên mặt đất.
“Thịt củ” nạc thơm và có vị cay. Lá mọc so le theo hai phía đối xứng trên “thân”; phiến lá hình mác thuôn đến bầu dục dài hoặc hình đƣờng chỉ; cuống lá rất ngắn hoặc hầu nhƣ không có; bẹ lá nguyên hoặc xẻ 2 thuỳ; lá có mùi thơm nhẹ. Cụm hoa bông, thƣờng mọc từ thân rễ, đôi khi ở ngọn “thân giả”. Các hoa mọc sít nhau và mỗi hoa đƣợc bao bởi một lá bắc sắp xếp nhƣ dạng vẩy cá từ dƣới lên trên; lúc đầu thƣờng có màu xanh, sau chuyển dần sang màu vàng, đỏ nhạt, vàng 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sáng hoặc đỏ; cánh hoa hình ống mảnh, màu trắng, vàng hoặc hồng; bao phấn thƣờng có dạng hình ống bao lấy vòi nhụy, bầu 3 ô nhẵn hoặc có lông dày.
Hạt nhiều, hình trứng hay trái xoan, màu nâu đỏ, đen trắng hay vàng [10]. Các loài trong chi Gừng (Zingiber) thƣờng sinh trƣởng phổ biến ở những nơi đất giàu dinh dƣỡng, ẩm ƣớt dƣới tán rừng thƣờng xanh hoặc rừng rụng lá theo mùa. Một số loài có thể mọc trên đất lẫn sỏi đá, trên bãi đất trống hoặc trong rừng thứ sinh, rừng thƣa lên tới độ cao 3000m so với mặt nƣớc biển [10]. Thân rễ các loại cây thuộc chi Gừng phát triển rất nhanh.
Từ một chồi giống ban đầu, chúng có thể phân nhánh, đâm chồi, tăng sinh khối và phát triển thành một bụi lớn chỉ trong một vài năm. Mùa ra hoa, chín quả của các loài trong chi Gừng cũng rất khác nhau. Tại Malaixia, loài Gừng đen (Z. spectabile) thƣờng ra hoa từ tháng 7 đến tháng 9 và quả thƣờng chín vào tháng 11.
Trong khi đó, loài Gừng gió (Z. zerumber) lại ra hoa sớm hơn từ tháng 6; còn mùa quả từ tháng 10 đến tháng giêng sang năm. Hầu hết các loài cây thuộc chi Gừng (Zingiber) đều có chứa tinh dầu, là nguồn nguyên liệu có giá trị để làm thuốc và làm gia vị: Thân rễ làm gia vị trong chế biến thực phẩm, là nguyên liệu trong chế biên rƣợu bia, mứt gừng… Trong dân gian, “củ” của nhiều loài đã đƣợc coi là thuốc giải cảm, kích thích tiêu hoá, chữa đau dạ dày, ho, mụn, nhọt, đau đầu, nhức xƣơng, đau bụng lạnh, tứ chi lạnh, mạch yếu, đàm ẩm, ho suyễn, ôn trung tán hàn, hồi dƣơng, thông mạch, táo thấp tiêu đàm [10][5]. Theo tạp chí dƣợc phẩm, nhà nghiên cứu Nhật Bản Huffington Post cho biết “Gừng đỏ đƣợc sử dụng trong y học truyền thống của Indonesia nhƣ một loài thuốc giảm đau cho các bệnh viêm khớp”.
Bên cạnh đó gừng giúp tăng cƣờng lƣu thông máu, có lợi cho hệ tim mạch, làm giảm mỡ trong máu, giảm quá trình oxi hoá… 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nghiên cứu các loài của chi Gừng (Zingiber). Trong 12 loài thuộc chi Gừng (Zingiber), có những loài không chỉ là cây thuốc quí mà còn là nguồn nguyên liệu có giá trị trong chế biến thực phẩm. Các sản phẩm đƣợc chế biến từ nguồn nguyên liệu này đƣợc sử dụng rộng rãi ở các nƣớc Đông Nam Á nói riêng và trên toàn thế giới nói chung [10].
Các nghiên cứu về chi Gừng thì loài Zingiber officinale và Z. Zerumbet đƣợc nghiên cứu về thành phần hoá học của tinh dầu nhiều nhất [9],[27]. Thành phần chủ yếu là các tecpen, tecpenoit, flavonoit, ancaloit và glicozit. Từ dịch chiết CH2Cl2 của rễ cây gừng Z.
Trong những năm gần đây các nhà khoa học đã nghiên cứu thêm về thành phần hoá học của một số loài thuộc chi Gừng nhƣ: Gừng môi tím đốm (Zingiber penisulare .I Theilade), gừng Eberhardt (Zingiber eberhardtii Gagn. Nghiên cứu về cây Gừng nhà (Zingiber officinale Roscoe). Cây Gừng nhà tên khoa học Zingiber officinale Roscoe, thuộc chi Gừng (Zingiber), họ Gừng (Zingiberaceae), cây Gừng còn có tên đồng nghĩa Amomum Zingiber L (1753). Ở các nƣớc khác nhau cây Gừng có những tên gọi khác nhau: Sinh Khƣơng, Can khƣong, Khinh, Sung, Co khinh (Việt nam), Ginger, Comon ginger (Anh), Jiang (Trung Quốc)… Thành phần hoá học gồm có tinh dầu (2-3%), nhựa dầu (5%), chất béo (3,7%), tinh bột và các chất cay nhƣ: Zingerone, zingerola, shogaola.
Đặc điểm thực vật: Cây thảo, sống nhiều năm, mọc thành khóm, thẳng đứng, cao 0,5 đến 1,2m. Thân rễ mẫm lên thành củ, mâp, phân nhánh nhiều theo bề ngang trên mặt đất, vỏ ngoài nhẵn, nạc màu vàng hay trắng ngà, có mùi thơm và vị cay đặc trƣng. “Thân” khí sinh (thân giả) đƣợc hình thành bởi các ống bẹ lá màu xanh nhạt, đôi khi có màu đỏ nhạt ở phía gốc. Lá mọc so le cách ở 2 phía làm thành 2 dãy trên cây.
Phiến lá hình mác thuôn, màu xanh đậm, thắt lại ở gốc, chúp lá 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhọn, mép lá nguyên, kích thƣớc 15-30x1,5-2,5 cm; các gân chính song song; không cuống; bẹ nhẵn, lƣỡi bẹ dạng màng. Cụm hoa bông, mọc từ gốc, hình trứng kích thƣớc 5-6 x 2-3 cm, cán cụm hoa dài chừng 20cm, cụm hoa thành bông mọc sít nhau. Loài gừng trồng ít ra hoa [1]. Tại Cao Bằng, Lạng Sơn và các địa phƣơng miền núi phía Bắc nƣớc ta hiện đã biết có ít nhất 3 giống gừng.
Chúng không chỉ khác nhau về đặc điểm sinh học, mà còn khác nhau về thành phần hoá học của tinh dầu. Đó là các giống Gừng: - Giống “Gừng gà” (“Gừng cay”, „Gừng đồi”, “kinh cáy”(Tày))- cây thấp bé, chịu lạnh khỏe, thân dễ nhỏ, màu vàng xanh, nhiều xơ, nhƣng rất cay và thơm. Hàm lƣợng tinh dầu trong thân rễ khá cao (2,8-3,5%). - Giống “Gừng trâu” (“Gừng voi”, “kinh vòi”, “kinh vạng” (Tày))- cây to, cao, thân rễ lớn, sinh trƣởng khỏe.