Chương 1: giới thiệu chung về đề tài, lý do chọn đề tài, mục đích và cấu trúc luận văn. Chương 2: trình bày kiến trúc chung và các thành phần của hệ thống thông tin dựa trên web, những lợi thế của hệ thống thông tin trên nền web. Chương 3: trình bày các phương pháp mục tiêu các yếu tố ảnh hưởng và các công cụ đánh giá hiệu năng. Chương 4 nghiên cứu đánh giá tính khả dụng hệ thống thông tin trên nền web bằng mô phỏng.
Chương này trình bày thực hiện mô phỏng người dùng đồng thời bằng công cụ Jmeter truy cập vào trang web bán hàng trực tuyến http://www.com theo nhiều kịch bản khác nhau để đánh giá mức sử dụng tài nguyên của hệ thống để phân tích đánh giá khả năng đáp ứng của hệ thống. Phần cuối cùng là phần kết luận. Phần này đánh giá kết quả đạt dược của luận văn và định hướng mở rộng nghiên cứu trong tương lai 17 CHƯƠNG 2: KIẾN TRÚC CỦA CÁC HỆ THỐNG THÔNG TIN DỰA TRÊN WEB 2. Khái niệm Hệ thống (System): Hệ thống là tập hợp các thành phần có liên hệ trong bản thân nó, cùng vận động, tương tác để thực hiện một mục đích xác định: Thông tin (Information): Thông tin (system) là tập hợp các yếu tố dữ liệu được truyền từ nguồn phát đến nguồn nhận mà đưa ra được ý nghĩa, trạng thái, tính chất của một đối tượng.
Dữ liệu (data) là các yếu tố rời rạc như: một con số, một chuỗi ký tự. Hệ thống thông tin (Information System): Hệ thống thông tin là một hệ thống bao gồm các yếu tố có quan hệ với nhau cùng làm nhiệm vụ thu thập, xử lý, lưu trữ và phân phối thông tin và dữ liệu và cung cấp một cơ chế phản hồi để thực hiện một mục đích định trước. Theo [3], bốn hệ thống thông tin dưới đây thường được sử dụng. - Hệ thống thông tin xử lý dữ liệu với mục đích xử lý các giao dịch và ghi lại những dữ liệu cho từng chức năng đặc thù.
Dữ liệu đưa vào được thường xuyên cập nhật. Dữ liệu đầu ra định kỳ bao gồm các tài liệu hoạt động và báo cáo. Hệ xử lý dữ liệu có tính cục bộ thường dành cho các nhà quản lý cấp tác nghiệp. - Hệ thống thông tin quản lý là một hệ thống thông tin được sử dụng trong các tổ chức kinh tế xã hội, hệ gồm nhiều thành phần, mỗi thành phần là một hệ thống con hoàn chỉnh.
Hệ thống thông tin quản lý có chức năng hỗ trợ xử lý dữ liệu trong giao dịch và lưu trữ và hỗ trợ cho nhiều chức năng. Ngoài ra nó cung cấp cho các nhà quản lý các thông tin theo thời gian của hệ thống và cơ chế bảo mật thông tin theo từng cấp độ có thẩm quyền sử dụng. - Hệ thống thông tin hỗ trợ quyết định có mục đích là giúp cho tổ chức những thông tin cần thiết để ra quyết định hợp lý và đủ độ tin cậy. - Hệ thống thông tin chuyên gia giúp các nhà quản lý giải quyết và thực hiện vấn đề ở mức cao hơn hệ thống thông tin hỗ trợ quyết định.
Hệ này liên quan đến lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, làm cho máy tính có khả năng lập luận, học tập, tự hoàn thiện như con người. Chẳng hạn các chương trình lập kế hoạch tài chính, chẩn đoán bệnh, dịch máy,. Khái niệm về hệ thống thông tin dựa trên web Hệ thống thông tin dựa trên web là một hệ thống thông tin sử dụng các công nghệ World Wide Web để cung cấp thông tin và dịch vụ cho người dùng hay các hệ thống thông tin và các ứng dụng khác. Công nghệ này là một hệ thống phần mềm và được sử dụng để xuất bản và duy trì dữ liệu theo nguyên tắc siêu văn bản.
Hệ thống thông tin dựa trên web là sự kết hợp của một hoặc nhiều ứng dụng web, các thành phần định hướng chức năng cụ thể. 18 World Wide Web hay WWW là bộ sưu tập tất cả các thông tin có sẵn trên mạng Internet. Vì vậy, tất cả các văn bản, hình ảnh, âm thanh, video trực tuyến - tất cả điều này tạo thành WWW. Hầu hết các thông tin này được truy cập thông qua các trang web và chúng ta xác định các trang web bằng tên miền của trang.
Như đã nói ở trên, Web không phải là một hệ thống cụ thể mà là một tập hợp các công cụ tiện ích và siêu giao diện (meta-Interace) giúp người sử dụng có thể tự tạo ra các "siêu văn bản" và cung cấp cho người dùng khác trên Internet và người ta gọi đó là Công nghệ Web. Mô hình hệ thống thông tin web nói chung Theo [1], hệ thống thông tin web bao gồm: - Đường kết nối tới mạng cung cấp dịch vụ Internet - Các máy chủ cung cấp dịch vụ web - Dịch vụ web hosting chứa các phần mềm Application Server đảm bảo phát triển dịch vụ web kết nối đến các cơ sở dữ liệu trên các máy tính khác, mạng khác - Các máy chủ cơ sở dữ liệu, máy chủ chứng thực, máy chủ tìm kiếm - Hệ thống tường lửa - Hệ thống máy trạm điều hành Khi máy khách client kết nối vào Internet, người sử dụng trình duyệt web gõ địa chỉ web cần truy cập yêu cầu gửi tới máy chủ. Địa chỉ web này chính là URI. Trình duyệt web sẽ gửi yêu cầu lấy thông tin tới địa chỉ xác định trong URL thông báo giao thức truyền dữ liệu thường là giao thức http.
Máy tính của người dùng sẽ sử dụng máy DNS để lấy địa chỉ IP của máy chủ web. Sau khi có địa chỉ IP, máy tính của bạn sau đó sẽ thiết lập kết nối với máy chủ web. Máy chủ web (web server) xem xét các yêu cầu từ phía Web browser gửi đến. Máy chủ web gửi trả về một trang html.
Trong trường hợp là web tĩnh thì máy chủ web sẽ lấy thông tin lưu sẵn trên máy chủ web dạng thư mục, file gửi lại theo yêu cầu của máy khách. Trong trường hợp web động, máy chủ sẽ dùng các ngôn ngữ lập trình web như asp, php, jsp, …. kết nối và khai thác cơ sở dữ liệu và trả dữ liệu cho máy khách một trang thuần html đã qua xử lý. Có nhiều mô hình để xây dựng dịch vụ mạng, nhưng cơ bản nhất là mô hình Client – Server Client Server Tạo ra 1 yêu cầu Lắng nghe yêu cầu Gửi yêu cầu đến Server Nhận yêu cầu Chờ Server xử lý Xử lý yêu cầu Nhận kết quả trả về và xử lý theo mục đích Gửi kết quả trả về cho Client riêng.
Mô hình hệ thống thông tin dựa trên dịch vụ web nói chung URI là chuỗi định dạng hay nhận dạng tài nguyên thống nhất: là một chuỗi ký tự, được sử dụng để xác định, nhận dạng một tên hoặc một tài nguyên. Hiểu đơn giản URI là chuỗi nhận dạng tài nguyên thống nhất, gọi tắt là chuỗi nhận dạng. URI xác định việc nhận dạng cho tài nguyên trên mạng qua tên bằng URN, hay là qua địa chỉ bằng URL, hay là cả hai. URN là chuỗi dùng để nhận dạng một tài nguyên.
URL là chuỗi nhận dạng tài nguyên bằng địa chỉ. Nó được xem như một đường dẫn, 1 liên kết tới website tạo nên khả năng siêu liên kết cho các website URL được sử dụng trong tất cả các dịch vụ thông tin của Internet và đặc biệt là trong Web. Mỗi trang Web có một URL duy nhất để xác định nó, thông qua URL có thể truy cập tới bất kì tài nguyên của bất kì dịch vụ nào trên Internet. Cấu trúc của một URL: Protocol://www.domain:80/derictory/filename Trong đó: Protocol là tên giao thức www là dịch vụ World Wide Web domain là tên miền, 80 là cổng derictory/filename là phần phụ.
Protocol có thể là: Ftp file ở trong một Fpt Server. Ví dụ: Ftp://ftp.doc Mail to: Địa chỉ E-mail cá nhân. Vídụ: someone@microsoft.com File: giao thức truyền file HTTP: (Hypertext Transfer Protocol): Trình duyệt web (Web browser) và máy chủ web (Web Server) giao tiếp với nhau thông qua giao thức HTTP 20 (HyperText Transfer Protocol). HTTP xác định cách các thông điệp (các file văn bản, hình ảnh đồ hoạ, âm thanh, video, và các file multimedia khác) được định dạng và truyền tải ra sao, và những hành động nào mà các Web server (máy chủ Web) và các trình duyệt Web (browser) phải làm để đáp ứng các dịch vụ đa dạng.
Mối quan hệ giữa URI, URL, URN Trình duyệt web là một phần mềm ứng dụng cho phép người sử dụng xem và tương tác với các văn bản, hình ảnh, đoạn phim, nhạc, trò chơi và các thông tin khác ở trên một trang web của một địa chỉ web trên mạng toàn cầu hoặc mạng nội bộ. Văn bản và hình ảnh trên một trang web có thể chứa siêu liên kết tới các trang web khác của cùng một địa chỉ web hoặc địa chỉ web khác. Trình duyệt web cho phép người sử dụng truy cập các thông tin trên các trang web một cách nhanh chóng và dễ dàng thông qua các liên kết đó. Trình duyệt web đọc định dạng HTML để hiển thị, do vậy một trang web có thể hiển thị khác nhau trên các trình duyệt khác nhau.
Web Server (máy chủ Web): máy chủ mà trên đó cài đặt phần mềm chạy Website, đôi khi người ta cũng gọi chính phần mềm đó là Web Server. Máy chủ Web Server là máy chủ có dung lượng lớn, tốc độ cao, được dùng để lưu trữ thông tin như một ngân hàng dữ liệu, chứa những website đã được thiết kế cùng với những thông tin liên quan khác. (Các mã - Script, các chương trình, và các file Multimedia. Hiện nay có 2 loại web server thông dụng nhất là: Internet Information Services (IIS), Apache Web Server.
Trong đó, Apache Web Server chiếm giữ trên 60% thị trường web thế giới. Thành phần của hệ thống thông tin dựa trên web Theo [4], hệ thống thông tin là hệ thống tập trung toàn bộ các công nghệ của công nghệ thông tin – truyền thông. Các thành phần của hệ thống thông tin Theo hình 2.3, hệ thống thông tin được tổ chức bằng hai vòng. Vòng trong hệ thống thông tin là các máy tính được tổ chức nhập dữ liệu, xử lý, lưu dữ liệu đưa thông tin ra theo chỉ thị bộ điều khiển hệ thống thực thi.
Vòng ngoài thể hiện các tài nguyên của hệ thống nhằm đảm bảo việc thực hiện của hệ thống thông tin. Đó là phần cứng, phần mềm, tài nguyên mạng, tài nguyên dữ liệu và nhân lực con người. Phần cứng là các bộ phận vật lý, thiết bị máy móc, thiết bị hiện hữu, của máy tính hay hệ thống máy tính, hệ thống mạng sử dụng vận hành trong hệ thống.