Chương 1 của luận văn giới thiệu về cơ sở lý thuyết về nguồn lực của doanh nghiệp. Trên cở sở này, mô hình nghiên cứu được xây dựng. Nội dung chính của chương này gồm có bốn phần chính: (1) Lý luận về nguồn lực và năng lực cạnh tranh cốt lõi; (2) Lý thuyết về nguồn lực và đặc điểm nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững; (3) Nguồn lực năng lực cạnh tranh cốt lõi; và (4) mô hình nghiên cứu. NGUỒN LỰC VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỐT LÕI 1.
Nguồn lực doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh Nguồn lực là gì? Nguồn lực là tài sản có giá trị - đó là những thứ có thể sử dụng như là những yếu tố đầu vào để sản sinh ra những thành quả mong muốn. Nguồn lực có tồn tại dưới hai dạng - hữu hình và vô hình: + Nguồn lực hữu hình, bao gồm nguồn lực về tài chính và vật chất hữu hình. Nguồn lực về tài chính như vốn tự có (dự trữ tiền mặt, tài sản ròng hiện có và bất cứ tài sản tài chính nào khác) và khả năng vay vốn (mức tín dụng) của doanh nghiệp. Nguồn lực về vật chất hữu hình bao gồm những tài sản hữu hình của doanh nghiệp có thể đem lại lợi thế về chi phí sản xuất như qui mô, vị trí, tinh vi về kỹ thuật, tính linh hoạt của nhà máy sản xuất, của trang thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu đầu vào, … + Nguồn lực vô hình, bao gồm nhân lực (nhân viên, kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng quản lý, khả năng tích hợp của nhân viên với tính linh hoạt trong chiến lược, lòng trung thành của nhân viên, …); công nghệ (bằng phát minh sáng chế, bản quyền, bí quyết công nghệ, …); và danh tiếng (sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng về dịch TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -9- vụ, chất lượng, hình ảnh công ty, văn hóa doanh nghiệp, thiết lập được mối quan hệ tốt với khách hàng, chính quyền, …).
Nguồn lực doanh nghiệp là gì? Là sự tổng hòa giữa các nguồn lực vô hình và nguồn lực hữu hình nhằm đạt được mục tiêu (doanh thu hay thị phần) mà doanh nghiệp đề ra. Năng lực tiềm tàng Năng lực tiềm tàng là khả năng kết hợp các nguồn lực của một doanh nghiệp để hoàn thành các mục tiêu mong muốn. Năng lực tiềm tàng là kết quả của sự tương tác phức hợp qua lại lẫn nhau giữa các nguồn lực hữu hình và vô hình được xác lập trên cơ sở phát triển, chuyển giao, trao đổi hoặc chia sẻ về thông tin và kiến thức giữa những người lao động của một công ty. Năng lực tiềm tàng trở nên hết sức quan trọng khi nó được kết hợp trong những cách thức độc đáo, duy nhất và tạo ra các lợi thế cạnh tranh có giá trị chiến lược và có thể tồn tại đưa đến năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh cốt lõi 1. Cạnh tranh Cạnh tranh, hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một đối thủ về thị phần, khách hàng hay nguồn lực. Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay, không phải là tiêu diệt đối thủ, mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra giá trị gia tăng cao hơn đối thủ nhằm để thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu và từ đó khách hàng có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh (Micheal Porter, 1996). Năng lực cạnh tranh Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta đã sử dụng khái niệm về năng lực cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp… Trong phạm vi của luận văn này, chủ yếu đề cập đến đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 10 - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn (theo một cách khác, đó là năng lực tạo ra giá trị gia tăng). Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp (hay từ những hoạt động cụ thể tích hợp nguồn lực của doanh nghiệp). Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh đang hoạt động trong cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường.
Trên cơ sở so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo ra và có được những lợi thế cạnh tranh của riêng mình. Nhờ lợi thế cạnh tranh này, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh (Lê Công Hoàn, 2006). Thực tế cho thấy rằng, không một doanh nghiệp nào có khả năng đáp ứng đầy đủ tất cả nhu cầu của khách hàng. Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và có hạn chế về mặt khác.
Vì vậy, vấn đề quan trọng là doanh nghiệp phải nhận biết được điều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có thể đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng. Những điểm yếu và điểm mạnh bên trong doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như: marketing, tài chính, sản xuất, nhận sự, quản trị, hệ thống thông tin… Từ đó có thể thấy, khái niệm năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô và vĩ mô. Một sản phẩm có thể năm nay được đánh giá là có năng lực cạnh tranh, nhưng năm sau hoặc năm sau nữa lại không còn có khả năng cạnh tranh nếu không giữ lợi thế cạnh tranh. Vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra giá trị gia tăng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng, đồng thời tạo ra lợi thế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 11 - cạnh tranh cho doanh nghiệp; nó được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu tác động của môi trường kinh doanh.
Năng lực cạnh tranh cốt lõi Năng lực cạnh tranh cốt lõi, gọi tắt là năng lực cốt lõi là những năng lực cạnh tranh mà doanh nghiệp có thể thực hiện tốt hơn những năng lực khác trong nội bộ của công ty, năng lực đó mang tính trung tâm đối với khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.Prahalad và Gary Hamel (1990) đã đưa ra hình tượng một cái cây với bộ rễ là năng lực cốt lõi, thân và cành và sản phẩm cốt lõi. Năng lực cốt lõi là sự họp nhất, gom tụ tất cả công nghệ và chuyên môn của doanh nghiệp vào thành một trọng điểm, một mũi nhọn nhất quán. Nhiều ý kiến cho rằng, doanh nghiệp nên xác định và tập trung vào ba hoặc bốn năng lực cốt lõi để tạo ra lợi thế cạnh tranh của riêng mình, tuy nhiên, điều này thường rất dễ bị xói mòn bởi những hành động bắt chước của đối thủ. Mặt khác, năng lực cốt lõi là năng lực cạnh tranh nên cũng chịu sự tác động bởi những thay đổi của môi trường kinh doanh.
Do đó, các năng lực cốt lõi phải có sự khác biệt (Prahalad & Hamel 1990). Sự khác biệt của năng lực cốt lõi được thể hiện ở chỗ - Giá trị mà nó tạo ra có tính bền vững và có khả năng thích ứng với những thay đổi của môi trường kinh doanh để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp - điều này có nghĩa là, năng lực cốt lõi định dạng và kết hợp lại các nguồn lực của doanh nghiệp để thích ứng với những biến động của môi trường kinh doanh. Vì vậy, các năng lực cốt lõi có sự khác biệt không dễ dàng bắt chước, rất tốn kém để tạo ra nó, nhất là khi các năng lực cốt lõi đó có tính chất năng động, không ngừng biến hóa (John Kay 1993). Vậy, năng lực cạnh tranh cốt lõi là những khả năng tích hợp và định dạng lại những tiềm năng của doanh nghiệp để đáp ứng với thay đổi của môi trường kinh doanh (Teece & ctg 1997); khả năng đó đem lại lợi ích cho khách hàng, tạo ra lợi thế cạnh tranh và đem lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp (Eisenhardt & Martin 2000).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lợi thế cạnh tranh và giá trị gia tăng 1. Lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh chính là giá trị mà doanh nghiệp mang đến cho khách hàng, giá trị đó vượt quá chi phí dùng để tạo ra nó. Giá trị mà khách hàng sẵn sàng để trả, và ngăn trở việc đề nghị những mức giá thấp hơn của đối thủ cho những lợi ích tương đương hay cung cấp những lợi ích độc nhất hơn là phát sinh một giá cao hơn (Michael Porter, 1985, trang 3).
Khi một doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp đó sẽ có cái mà các đối thủ khác không có, nghĩa là doanh nghiệp hoạt động tốt hơn đối thủ, hoặc làm được những việc mà các đối thủ khác không thể làm được. Lợi thế cạnh tranh là nhân tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp. Mặt khác, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo ra và có được những lợi thế cạnh tranh của riêng mình. Do vậy mà các doanh nghiệp đều muốn cố gắng phát triển lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên điều này thường rất dễ bị xói mòn bởi những hành động bắt chước của đối thủ Muốn tạo ra lợi thế cạnh tranh thì doanh nghiệp phải tạo ra giá trị cho khách hàng bằng cách tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp.
Giá trị gia tăng Trong vấn đề cạnh tranh, giá trị là mức tiền mà người mua sẵn lòng thanh toán cho những sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp. Giá trị được đo lường bằng tổng doanh thu, phản ánh sự điều tiết giá cả của sản phẩm và số lượng đơn vị sản phẩm có thể bán ra của doanh nghiệp. Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có lợi nhuận nếu giá trị mà họ điều tiết (được biểu hiện là giá cả) vượt quá các chi phí liên quan đến việc tạo ra sản phẩm. Do đó, tạo ra các giá trị cho người mua với chi phí thấp hơn giá trị đó là mục tiêu của mọi chiến lược.