Chương 1: Cơ sở lý thuyết Chương 2: Khảo sát một số tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao Việt Nam Chương 3: Giá trị biểu trưng của một số tín hiệu thẩm mĩ tiêu biểu trong ca dao Việt Nam 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Cho đến nay các định nghĩa về THTMđã được tìm thấy rải rác trong những công trình của các tác giả như In. Khrapchenko, Hoàng Trinh, Trần Đình Sử, Đỗ Hữu Châu… Trong chương này, chúng tôi sẽ lần lượt trình bày một cách vắn tắt những điểm chủ yếu trong quan niệm của các tác giả kể trên, để từ đó tự định cho mình một cách hiểu cụ thể, làm cơ sở cho việc tiến hành nghiên cứu THTM trong đề tài. Vì THTM, về bản chất cũng là một loại TH cho nên nghiên cứu một THTM phải đặt nó trong phạm trù chung của TH. Mặt khác, yêu cầu của việc nghiên cứu THTM trong tương quan với hệ thống ngôn ngữ biểu hiện trong tác phẩm văn học đòi hỏi phải nhìn nhận THTM trong mối quan hệ với TH ngôn ngữ.
Những vấn đề về THTM mà chúng tôi quan tâm liên quan đến cả những quan niệm về TH nói chung và TH ngôn ngữ nói riêng. Tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ 1. Tín hiệu Có nhiều định nghĩa khác nhau về TH, liên quan đến những cách hiểu rộng hẹp khác nhau của các tác giả. Trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng”, Đỗ Hữu Châu đã nêu ra định nghĩa TH của P.
Guiraud: “Một tín hiệu… là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh ký ức của một kích thích khác” [6, 51]. Schaff lại định nghĩa THTM theo nghĩa hẹp:“Một sự vật vật chất hay thuộc tính của nó, một hiện tượng thực tế sẽ trở thành TH nếu như trong quá trình giao tiếp nó được các nhân vật giao tiếp sử dụng trong khuôn khổ của một ngôn ngữ để truyền đạt một tư tưởng nào đó về thực tế, tức về thế giới bên ngoài hay về những cảm thụ nội tâm” [6, 51]. Định nghĩa của A. Schaff hẹp ở chỗ chỉ thừa nhận những sự vật hiện tượng là TH khi nó được sử dụng có ý thức trong phạm vi một hệ thống có tư cách như một ngôn ngữ để trao đổi tư tưởng, tình cảm giữa người với người, còn những TH giao tiếp không ý thức của động vật không được thừa nhận là TH.
Quan niệm của P. Guiraud về TH rộng hơn vì nó bao hàm cả những TH hẹp, những TH nhận biết đối với thế giới sinh vật, cả những TH giao tiếp có tính chất bản năng của loài vật. Theo cách hiểu này, tất cả những hình thức vật chất có khả năng gợi ra những hình ảnh đều được coi là TH, không phân biệt nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo, có chức năng giao tiếp hay phi giao tiếp… Một đám mây với 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khả năng gợi ra hình ảnh về cơn mưa trong nhận thức của con người. Một giọng nói “tự nói lên” những đặc điểm về quê quán, về tuổi tác, nghề nghiệp, trạng thái tâm sinh lý… của người nói trong sự nhận thức của người nghe.
Một câu hỏi nhưng chính là một lời tỏ tình của ca dao: “Tre non đủ lá đan sàng được chăng?”. Một con thuyền trong ý nghĩa của “người đi” mà ca dao vẫn thường nhắc đến… Các nhà nghiên cứu lý thuyết về thông tin gọi đó là những yếu tố mang tin. Các nhà nghiên cứu ngữ nghĩa học gọi đó là những yếu tố mang nghĩa. Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng đãchỉ ra những điều kiện cần cho một sự vật, hiện tượng, hay thuộc tính vật chất trở thành TH: 1.
Phải có một hình thức cảm tính (cái biểu hiện); 2. Phải có một nội dung ý nghĩa (cái được biểu hiện); 3. Phải được nhận thức bởi một chủ thể nào đó (đối tượng của thông tin); 4. Phải nằm trong một hệ thống nhất định.
Chúng tôi coi những điều kiện này là cơ sở cho sự nhận diện TH trong đề tài. Một TH là một yếu tố bao hàm hai mặt: “Cái biểu hiện” (CBH) và “cái được biểu hiện” (CĐBH), đồng thời cũng là một yếu tố chỉ có thể xác định được trong mối tương quan với chủ thể nhận thức và với hệ thống mà nó tham gia. Về phân loại TH, các tác giả cũng đưa ra nhiều cách phân loại khác nhau dựa vào những tiêu chí khác nhau. Phân loại của C.
Peirce phân biệt ba phạm trù chính của TH: hình hiệu, dấu hiệu, biểu trưng. Morris đưa thêm vào hệ thống phân loại những phạm trù: chỉ hiệu, định hiệu. Bảng phân loại của P. Guiraud có sự phân biệt TH tự nhiên với TH nhân tạo, TH biểu hiện và TH giao tiếp.
Lấy bảng phân loại TH của P. Guiraud làm trục chính, trên cơ sở bổ sung thêm kết quả phân loại của các tác giả khác, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra nguyên tắc phân loại theo những tiêu chí khác nhau. Căn cứ vào chức năng xã hội có thể phân loại các TH thành TH giao tiếp và TH phi giao tiếp. Căn cứ vào đặc tính thể chất của cái biểu đạt có thể phân loại thành: TH thị giác, TH tính giác, TH xúc giác… Căn cứ vào nguồn gốc để chia thành TH tự nhiên và TH nhân tạo.
Căn cứ vào quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt có thể quy TH thành ba loại: dấu hiệu, hình hiệu và ước hiệu. Các phạm trù TH được kể ở đây tuy không đồng nhất trong quan niệm của mỗi tác giả và cũng không tương đồng với nhau trên cùng một tiêu chí phân loại nhất định nhưng có tác dụng cung cấp những khái niệm TH quan trọng trong việc nghiên cứu những đặc tính tín hiệu học khác nhau của các TH, làm cơ sở cho sự phân biệt TH được nghiên cứu trong đề tài. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong tất cả những phân loại kể trên, chúng tôi sử dụng bảng phân loại của Đỗ Hữu Châu mà ưu điểm là bao quát được tất cả những phạm trù – loại khác nhau của TH, đồng thời chỉ ra được mối quan hệ loại hình giữa các TH trên các tiêu chí khác nhau như: chức năng xã hội của TH, đặc tính thể chất của CBH, nguồn gốc TH, tính chất mối quan hệ giữa hai mặt CBH và CĐBH, sự chuyển mã, đặc tính tổ chức của TH… 1. Tín hiệu ngôn ngữ Ngôn ngữ thường được nói đến như một hệ thống TH đặc biệt.
Cuốn giáo trình “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng” đã nhấn mạnh đến vấn đề chức năng và đặc tính đa chức năng của các TH ngôn ngữ so với các hệ thống TH nói chung và TH mang chức năng giao tiếp nói riêng. Ngôn ngữ không chỉ thuần túy mang chức năng giao tiếp mà đồng thời còn là công cụ để tư duy, để tổ chức xã hội, để duy trì sự sống con người, ngôn ngữ còn mang chức năng thi pháp… Riêng đối với chức năng giao tiếp, cũng có sự phân biệt giữa những chức năng khác nhau liên quan đến những nhân tố khác nhau của hoạt động giao tiếp: chức năng miêu tả, chức năng dụng học, chức năng phát ngôn, chức năng cú học. Từ những khía cạnh chức năng khác nhau của ngôn ngữ có thể xác định ý nghĩa “tín hiệu” của chúng trên tất cả những đơn vị mang nghĩa (đơn vị hai mặt), từ từ đến cụm từ, đến câu, đoạn, văn bản. Một từ, ngữ, câu nói nào đó có thể vừa mang thông tin về sự vật, hiện tượng được nói tới, vừa bộc lộ những đặc điểm về địa phương, về nghề nghiệp, về trạng thái tâm lý của người nói… Từ “nỏ” trong câu ca dao “Đã thương thì thương cho chắc, Nỏ bằng trục trặc thì trục trặc cho luôn…” cho biết người nói là người xứ Nghệ.
Câu hỏi “Mấy giờ rồi?” trong những hoàn cảnh nhất định, có thể cho biết thái độ khó chịu (mong khách ngồi lâu đứng dậy ra về) của người nói… Ở bất kỳ cấp độ nào, một TH ngôn ngữ cũng phải bao hàm một hình thức ngữ âm (CBH) tương ứng với một nội dung ngữ nghĩa (CĐBH) và ở bất kỳ cấp độ nào, giá trị của TH ngôn ngữ cũng phải do những mối quan hệ thuộc hệ thống ngôn ngữ quy định. Về các quan hệ hệ thống của TH ngôn ngữ,“Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” của F. de Saussure đề cập đến hai loại quan hệ chung nhất: 1. Quan hệ đồng nhất – đối lập và quan hệ khác biệt; 2.
Quan hệ hình tuyến và quan hệ trực tuyến. Ngôn ngữ học hiện đại lưu ý thêm các loại quan hệ: 3. Quan hệ tôn ti (giữa các cấp 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com độ của ngôn ngữ) và 4. Quan hệ hiện thực hóa (giữa bình diện trừu tượng và bình diện cụ thể, giữa điển dạng và hiện dạng của TH)… Những nguyên tắc của đồng nhất và đối lập, của kết hợp và liên tưởng, của trừu tượng và cụ thể… trong hệ thống TH ngôn ngữ cũng chính là những vấn đề cốt yếu giúp cho việc lý giải về TH ngôn ngữ trong quá trình hoạt động thực hiện các chức năng của ngôn ngữ trong giao tiếp, kể cả giao tiếp nghệ thuật (giao tiếp của văn học).
Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ Bước vào thế giới nghệ thuật, những TH thông thường sẽ chuyển hóa thành THTM, mang những đặc thù nghệ thuật. Hiểu một cách chung nhất, THTM là yếu tố thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của nghệ thuật. Nói đến phương tiện biểu hiện nghệ thuật là nói đến hai mặt: thể chất và tinh thần. Mặt thể chất là những chất liệu (hình thức vật chất) được sử dụng trong mỗi ngành nghệ thuật, mỗi loại chất liệu sẽ có chỗ mạnh, chỗ yếu riêng làm nên đặc thù của ngành nghệ thuật đó: đường nét, màu sắc trong hội họa, âm thanh có nhịp điệu trong âm nhạc, ngôn ngữ trong văn học.
Còn mặt tinh thần thì trừu tượng và phức tạp, bao hàm nhiều loại nội dung, nhiều lớp ý nghĩa, nhiều tầng khái quát hóa, trừu tượng hóa mang tính thẩm mĩ. Đối với tác phẩm văn học, hình thức vật chất của THTM chính là ngôn ngữ. Cấu trúc đặc biệt của TH ngôn ngữ cho phép chứa đựng trong mỗi ngôn từ của tác phẩm văn học một phạm vi nào đó của đời sống hiện thực cùng những nét thuộc tính khách quan của đời sống hiện thực được phản ánh, làm thành ý nghĩa biểu vật, biểu niệm của từ. Vì vậy, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện mà còn là chất liệu của văn học.
Tuy nhiên, không thể đồng nhất ngôn ngữ với văn học, và không thể đồng nhất TH ngôn ngữ với THTM.