Chương 1 CHÍNH QUYỀN PHƢỜNG VÀ BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN PHƢỜNG - QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN 1. CHÍNH QUYỀN PHƢỜNG VÀ BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN PHƢỜNG TRONG HỆ THỐNG CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG Khác với chế độ tự quản địa phương của một số nước, chính quyền địa phương của Việt Nam là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước thống nhất, bao gồm các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra và các cơ quan, tổ chức khác được thành lập trên cơ sở các cơ quan quyền lực nhà nước này theo quy định của pháp luật nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hòa giữa lợi ích nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước. Khái niệm chính quyền địa phương trong khoa học pháp lý cũng như các khoa học khác của Việt Nam vẫn chưa được thống nhất. Ở nghĩa rộng, tất cả các cơ quan nhà nước đóng trên lãnh thổ địa phương, mà hoạt động của chúng có tác động trong phạm vi lãnh thổ địa phương đều được gọi là bộ phận cấu thành chính quyền nhà nước ở địa phương.
Vì vậy, ngoài HĐND các cấp cùng các UBND, còn các cơ quan quản lý khác của trung ương, viện kiểm sát, tòa án địa phương đều được gọi là những bộ phận cấu thành của chính quyền địa phương. Nhưng ở nghĩa hẹp, chính quyền địa phương chỉ gồm có HĐND, UBND và các ban, ngành của UBND. Các tòa án, viện kiểm sát về nguyên tắc tổ chức hoạt động là độc lập, chỉ tuân theo pháp luật nên không trực thuộc địa phương mà trực thuộc trung ương, cho dù địa bàn hoạt động nằm trên lãnh thổ địa phương. Trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước Việt Nam, khái niệm chính quyền địa phương được sử dụng để chỉ tổ chức và hoạt động của hai cơ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan là HĐND và UBND.
Nghị quyết lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) ngày 18 tháng 6 năm 1997 tại phần III, mục 4 về tiếp tục cải cách hành chính nhà nước đối với chính quyền địa phương chỉ đề cập tới việc kiện toàn củng cố HĐND và UBND các cấp và hướng cải cách tổ chức và hoạt động của hai cơ quan này mà không đề cập tới các cơ quan nhà nước khác trong hệ thống các cơ quan nhà nước ở địa phương. Quan niệm về chính quyền địa phương trên đây cho đến nay vẫn là quan niệm được thừa nhận chung. Theo đó, HĐND và Ủy ban hành chính (UBHC) (hoặc UBND) là các cơ quan do nhân dân lập ra để thực hiện quản lý các công việc địa phương tạo thành khái niệm chính quyền địa phương. Các cơ quan khác như Tòa án, Viện kiểm sát…tuy có thực hiện các công việc của nhà nước trên lãnh thổ địa phương nhưng không do nhân dân địa phương lập ra không được xem là các cơ quan thuộc thuật ngữ "chính quyền địa phương".
Như vậy, chính quyền địa phương là chính quyền do nhân dân địa phương lập ra xuất phát từ nhu cầu quản lý nhà nước ở địa phương, phục vụ nhân dân địa phương. Cơ quan nhà nước nào có được đặc điểm đó thì được xem là cơ quan nhà nước địa phương. Thời Pháp thuộc, nước ta chia ra làm ba kỳ, kỳ chia ra tỉnh, tỉnh chia ra phủ, phủ chia ra huyện, huyện chia ra tổng và cuối cùng là xã. Việc tổ chức lại hệ thống đơn vị hành chính nhằm mục tiêu xóa bỏ hệ thống cai trị, xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương kiểu mới và vận dụng các nguyên tắc phân chia mới.
Có thể thấy những hoạt động phân chia lại như sáp nhập (tỉnh, huyện (những năm 1960), xã (sau 1945)), lập thêm đơn vị hành chính (thị trấn (1951), khu tự trị (1959), phường (1980)) chính là thể hiện sự vận dụng nguyên tắc kinh tế (làm to đơn vị hành chính), dân tộc (có khu tự trị) và gần dân (áp xuống khu phố). Như vậy, mô hình chính quyền phường được ghi nhận thông qua Hiến pháp năm 1980. Chính quyền phường cùng với chính quyền xã, thị trấn được gọi chung là chính quyền cấp xã. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, chính quyền phường được xác định là đơn vị hành chính ở đô thị.
Theo nghĩa thông thường, "đô thị được hiểu là nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp, có thể cả nông nghiệp" [48, tr. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, dù diễn biến một cách chậm chạp, kéo dài trong điều kiện nền nông nghiệp tiểu nông, các đô thị ở Việt Nam được hình thành và phát triển. Lịch sử còn nhắc đến các đô thị lớn đương thời của đất nước như: thành Cổ Loa, Thăng Long, đô thị Phố Hiến, Hội An, cố đô Huế. Lần theo dấu vết lịch sử, cho thấy việc tổ chức đơn vị hành chính kiểu đô thị (thành phố, thị xã, thị trấn) xuất hiện khá muộn.
Cho đến nửa đầu thế kỷ XV, các thành (với nghĩa là pháo đài), phố (nơi tập trung làm ăn buôn bán) vẫn đang được đặt trực thuộc các huyện, lộ. Về sau này, từ những nơi tập trung dân cư (và là nơi đóng đô hay thủ phủ của bộ máy chính quyền Nhà nước các cấp) ban đầu đó, hình thành nên các đô thị lớn bé khác nhau và được Nhà nước đặt thành các đơn vị hành chính độc lập tách khỏi các huyện, lộ đương thời với một diện tích bao gồm khu pháo đài - hành chính, phố phường buôn bán, có thể bao quát cả vùng ngoại vi nhưng không quá nhiều. Số lượng, tên gọi các đơn vị hành chính đó khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử. Đơn bị hành chính đô thị riêng biệt đầu tiên có lẽ chính là phủ Trung Đô được đặt ra vào thời Hậu Lê (đời Lê Thánh Tông, thế kỷ XV), (Lệnh tháng 4/1466 chia nước thành 12 đạo thừa tuyên và phủ Trung Đô).
Đây có thể là đơn vị hành chính kiểu thành phố trực thuộc trung ương đầu tiên tương đương với đạo, xứ. Phủ này được hình thành từ hai huyện ở kinh kỳ là Thọ Xương và Vĩnh Thuận (Quảng Đức). Cách tổ chức bộ máy cai quản cũng có những điểm khác: trong khi ở đạo (sau gọi là xứ) có cơ quan cai trị là Ty tuyên chính xứ do Tuyên chính xứ đứng đầu, tiếp đến là Tham chính xứ và Chủ sự, thì ở Phủ có Phủ Doãn, Thiếu Doãn và Thị trung. Về sau ở xứ đặt thêm 2 ty là Đô ty và Hiếu ty, tổng cộng có 3 ty: Thừa ty, Đô ty và Hiến ty do Thừa chính xứ, Tổng binh và Hiến sát ty đứng đầu thì ở phủ không thấy nói tới thay đổi như vậy.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đến thời các chúa Nguyễn, gọi Ái Tử (Quảng Trị) và sau đó là Phú Xuân, nơi đóng đô, là Chính dinh với bộ máy cai quản gồm Chúa, 4 viên quan đại thần (nội tả, hữu tả, nội hữu, ngoại hữu) và các ty. Sau đó lại đổi gọi là đô thành. Thời Pháp thuộc, các đô thị được mở mang và phát triển. Chúng được gọi chung là thành phố hay thành phố tự quản và phân theo các cấp khác nhau.
Từ sau Cách mạng tháng Tám, tên đô thị và cách tổ chức chính quyền có nhiều thay đổi. Về tên gọi, các đô thị (thời kỳ đầu gọi là các thị trấn) được đặt những tên gọi và với vị trí khác nhau. - Thành phố là tên gọi chỉ các thị trấn lớn như Hà Nội, Nam Định, Vinh - Bến Thủy, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn - Chợ Lớn. Thành phố nói chung, theo quy định, được chia ra các khu phố - đơn vị tương đương huyện (đối với Hà Nội) và tương đương xã (đối với các thành phố, thị xã khác).
- Thị xã là tên gọi các tỉnh lỵ và những nơi đô hội về mặt hành chính, là nơi tập trung công thương nghiệp, cửa hàng, giao thông vận tải được biệt lập và quan hệ trực tiếp với tỉnh. Thị xã được quy định có thể chia ra khu phố (cũng tên là khu phố nhưng tương đương như cấp xã - con dấu tạm theo khuôn khổ dấu của UBHC xã) nhưng nơi nào dân số còn ít (chưa tới 1 vạn) thì không nên chia. Dưới đơn vị hành chính này có các tổ chức nhân dân là "tiểu khu và tiếp đến là tổ nhân dân" [41]. Về sau, từ năm 1980 thì thị xã, thành phố thuộc tỉnh đều được chua ra phường và xã.
- Thị trấn là đơn vị hành chính được tổ chức sau này (từ năm 1952) trên địa bàn dân cư vốn trước đó được đặt dưới sự quản lý của xã, do dân cư tập trung làm ăn, giao thương buôn bán trở nên đông đúc, cần một sự quản lý độc lập mà thành. - Ngoài ra, còn một đơn vị dân cư có tính đô thị là xóm phố hay thị tứ. Theo quy định trước đây, xóm phố là một loại đơn vị dân cư có tính đô thị 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com như thị trấn nhưng số dân cư tập trung còn ít, chưa có tính chất ổn định đặt trực thuộc xã, mỗi xã có thể có nhiều xóm phố. Chúng không phải là đơn vị hành chính.
- Quận, phường: được phân định (tổ chức) bên trong đô thị. Quận được tổ chức tại thành phố trực thuộc trung ương (trước năm 1980 gọi là khu phố, đơn vị tương đương cấp huyện). Về địa vị pháp lý chúng được xếp tương đương theo cấp: quận tương đương huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã; phường tương đương xã, thị trấn. QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN PHƯỜNG TỪ TRƯỚC ĐẾN NAY 1.
Tổ chức quản lý "cấp phƣờng" giai đoạn 1945 - 1980 1. Tổ chức chính quyền phường theo Sắc lệnh số 63, Sắc lệnh số 77 năm 1945 và Hiến pháp năm 1946 Ở nước ta, chính quyền địa phương của Nhà nước kiểu mới được thành lập trong cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng vũ trang giành chính quyền trong cuộc Cách mạng tháng Tám 1945. Các ủy ban giải phóng ra đời trong cuộc đấu tranh cách mạng, khởi nghĩa giành chính quyền ở các huyện, các làng là hình thức chính quyền "tiền Chính phủ" của nhân dân các địa phương khi ta chưa giành được chính quyền trong cả nước. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, các ủy ban giải phóng đã trở thành các ủy ban nhân dân là tổ chức chính quyền tiền thân của các HĐND và UBND sau này.