Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIAO NỘP, TIẾP CẬN, CÔNG KHAI CHỨNG CỨ TRONG TTDS VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm của chứng cứ 1. Khái niệm chứng cứ Hệ thống lý luận về chứng cứ được hình thành và xây dựng xuất phát từ quy luật cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng: vật chất khi đã được sinh ra thì không bao giờ mất đi, nó chỉ có thể chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác, mọi sự vật hiện tượng có mối liên hệ phổ biến. Theo đó, khi một quan hệ pháp luật được hình thành, một sự kiện pháp lý diễn ra thì quan hệ, sự kiện đó phải được thể hiện dưới những hình thức khác nhau của vật chất, có thể là các giấy tờ, tài liệu, hiện vật hoặc có thể được lưu giữ lại trong trí nhớ con người [28, tr.
Vì vậy, theo nghĩa thông thường, “chứng cứ là cái được dẫn ra để làm căn cứ xác định, chứng minh điều gì đó là có thật” [56, tr. Và dưới góc độ pháp lý, chứng cứ được định nghĩa là cái có thật, dựa vào đó theo trình tự luật định Tòa án xác định có hay không có tình tiết làm cơ sở cho yêu cầu của đương sự, VKS, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung và tình tiết khác có ý nghĩa để giải quyết vụ án [48, tr. Khái niệm chứng cứ lần đầu tiên được ghi nhận chính thức trong BLTTDS 2004, đến BLTTDS 2015 khái niệm tiếp tục được phát triển và hoàn thiện trên cơ sở kế thừa có chọn lọc việc xây dựng khái niệm chứng cứ của một số quốc gia trên thế giới. Chứng cứ được định nghĩa tại Điều 93 của BLTTDS 2015, có khái niệm khá tương đồng với quy định trong BLTTDS của Liên Bang Nga thông qua ngày 23/10/2002 [28, tr.112], cụ thể như sau: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”.
Điều 93 BLTTDS một mặt mở rộng phạm vi 8 các chủ thể thu thập chứng cứ, mặt khác sửa đổi giới hạn chứng cứ xuất trình trong quá trình tố tụng để phù hợp với thẩm quyền sử dụng chứng cứ của Tòa án trong việc ban hành phán quyết xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp. Tuy vậy, theo tác giả thì quy định, định nghĩa này vẫn chưa thật hoàn thiện. Nếu định nghĩa chứng cứ là “những gì có thật” thì khái quát nhưng không rõ ràng, cụ thể và chưa mang tính khẳng định. Thuật ngữ “những gì” trong tiếng Việt thường được dùng để đặt câu hỏi chứ không dùng để khẳng định được mà định nghĩa thì rất cần sự khẳng định.
Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan, chứng cứ là những tình tiết, sự kiện “phản ánh sự thật khách quan” của vụ việc dân sự. Cho nên, chứng cứ phải là “những cái có thật” chứ không phải là “những gì có thật”. Mặt khác, các tài liệu, vật chứng chỉ là cái chứa đựng những thông tin, dấu vết về vụ việc, nên chứng cứ phải là thông tin, tình tiết, sự kiện được ghi lại, để lại đó. Vì vậy, theo tác giả, sẽ khoa học và hợp lý hơn nếu sửa đổi, bổ sung quy định này như sau: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những thông tin, sự kiện, tình tiết có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”.
Đặc điểm của chứng cứ Theo quy định của pháp luật TTDS Việt Nam thì chứng cứ trong vụ việc dân sự có ba thuộc tính cơ bản sau đây: Thứ nhất, về tính khách quan, chứng cứ phải là những gì có thật, tồn tại khách quan và không lệ thuộc vào ý thức của con người. Chứng cứ có thể là sản phẩm của ý chí con người khi mà những tình tiết, sự kiện đó xuất phát từ hành vi của con người, nhưng bắt đầu từ thời điểm ra đời và được xem là chứng cứ của vụ việc thì nó tồn tại khách quan với ý thức của con người. Hay nói khác đi, con người có thể tìm ra chứng cứ để thu thập chứ không thể tạo ra chứng cứ cũng như thay 9 đổi, bóp méo chứng cứ theo ý chí chủ quan của mình. Chứng cứ tồn tại khách quan dưới nhiều hình thức khác nhau, đó có thể là tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử, vật chứng, lời khai của đương sự hoặc của người làm chứng, kết luận giám định … [30].
Tuy nhiên, không phải bất kỳ tài liệu, dữ liệu, lời khai, văn bản nào cũng được xem là chứng cứ và được sử dụng để giải quyết vụ việc dân sự mà phải đáp ứng một số điều kiện nhất định được quy định cụ thể tại Điều 95 BLTTDS 2015. Ví dụ như trường hợp tài liệu đọc được muốn được xem là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận; vật chứng muốn được xem là chứng cứ thì phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc… Có thể thấy, điều kiện để xác định chứng cứ chính là những điều kiện về hình thức, nội dung mà một văn bản, tài liệu, lời khai… cần phải đáp ứng, nhằm đảm bảo các nội dung mà nó chứa đựng là xác thực, phản ánh đúng sự thật khách quan. Việc quy định về xác định chứng cứ có ý nghĩa rất quan trọng vì nó giúp các chủ thể trong tố tụng xác định chứng cứ một cách thuận lợi và chính xác, từ đó góp phần giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự. Thứ hai, về tính hợp pháp, chứng cứ phải được giao nộp, xuất trình, thu thập theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định.
Chứng cứ có thể do đương sự (bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan [30]) hoặc do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tự mình thu thập rồi giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng. Ngoài ra, chứng cứ còn có thể do Tòa án tiến hành thu thập được thông qua nhiều biện pháp như lấy lời khai, định giá, thẩm định. Tuy nhiên, dù việc thu thập chứng cứ được thực hiện bởi chủ thể nào thì đều phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục do BLTTDS quy định. Như vậy, từ khái niệm có thể suy ra trong trường hợp thông tin được thu thập, giao nộp, xuất trình, cung cấp không theo luật định như xuất phát từ những nguồn bị pháp luật hạn chế hoặc do vi phạm pháp luật thì thông tin đó sẽ không được thừa nhận là chứng cứ cũng nhưng không thể được sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ việc.
Thứ ba, tính liên quan, trong thực tế khách quan luôn tồn tại đa dạng các tình tiết, sự kiện nhưng chỉ những tình tiết, sự kiện có liên quan mật thiết đến vụ việc mà 10 Tòa án đang giải quyết mới được xem là chứng cứ. Ở đây, chính sự liên hệ biện chứng giữa các chứng cứ với sự kiện pháp lý (đối tượng chứng minh) giúp chủ thể tham gia tố tụng nhận thức được thực tế khách quan của vụ việc dân sự. Tính liên quan của chứng cứ có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp khi mà từ chứng cứ đó Tòa án có thể rút ra kết luận một sự kiện pháp lý khách quan có tồn tại hay không. Hoặc chứng cứ có thể mang tính liên quan gián tiếp khi nó không trực tiếp chứng minh cho sự kiện pháp lý chính mà lại nhằm chứng minh những sự kiện trung gian khác; và dựa vào những sự kiện trung gian này cho phép suy đoán về sự tồn tại của sự kiện pháp lý chính [51, tr.
Chứng cứ với ba thuộc tính cơ bản: tính khách quan, tính hợp pháp và tính liên quan vốn là một thể thống nhất không thể tách rời, có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau [51, tr. Trong đó, tính khách quan và tính liên quan là điều kiện cần có của chứng cứ, được xem là yếu tố tiền đề khi đặt trong mối quan hệ với các thuộc tính còn lại; còn tính hợp pháp là cơ sở pháp lý của tính khách quan [51, tr. Như vậy, với những thông tin phản ánh sự thật khách quan, có mối liên hệ với vụ việc dân sự, đã được thu thập, cung cấp theo đúng quy định pháp luật và được xác định là chứng cứ thì đều mang giá trị chứng minh đối với vụ việc. Các chứng cứ đó được Tòa án sử dụng làm căn cứ (i) để xác định các tình tiết khách quan của VADS (sự tồn tại của sự kiện, tính đúng đắn hoặc không đúng đắn của sự kiện); và/hoặc (ii) để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự (yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) là có căn cứ và hợp pháp, chứng minh tính có cơ sở hoặc không có cơ sở trong yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ở đây cần hiểu rằng, việc thu thập, xem xét, đánh giá chứng cứ cũng như đưa chứng cứ vào sử dụng trong quá trình chứng minh từ phía các đương sự là hoàn toàn theo quan điểm chủ quan của đương sự, nhằm mục đích chứng tỏ cho Tòa án thấy yêu cầu của mình là đúng đắn. Đương sự không có quyền quyết định tài liệu nào là chứng cứ, tài liệu nào không phải là chứng cứ. Tòa án mới là chủ thể có thẩm 11 quyền xác định chứng cứ cũng như kết luận về giá trị chứng minh của chứng cứ dựa trên quá trình chứng minh của đương sự.