CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CHẾ TÀI TRONG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI TRONG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về chế tài trong thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm của chế tài trong thương mại Dưới góc độ pháp lý, chế tài là thuật ngữ có lịch sử lâu đời, bắt nguồn từ tiếng La-tinh là “Sanctio” (phán quyết nghiêm khắc nhất), theo nghĩa nguyên thủy là hình thức trừng phạt nghiêm khắc nhất dành cho những người vi phạm luật lệ2. Trong xã hội hiện đại, chế tài có cách hiểu khá đồng nhất với nhau giữa các quốc gia trên thế giới.
Theo hệ thống Civil law (hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa) chế tài được sử dụng phổ biến với thuật ngữ “sanctions”. Theo Từ điển Thuật ngữ pháp lý của Nhà xuất bản Dalloz, chế tài (sanctions) được định nghĩa là: “- Biện pháp bắt buộc gắn liền với bất kỳ quy phạm pháp luật nào (cấu thành nên các tiêu chuẩn đặc trưng của pháp luật và đạo đức); - Biện pháp đáp trả sự vi phạm pháp luật (hình phạt, hủy bỏ, vô hiệu, hết thời hiệu…); - Biện pháp đáp trả sự vi phạm một nghĩa vụ”3. Từ điển Black’s Law Dictionary ghi nhận “chế tài là hình phạt hoặc các biện pháp thực thi khác được sử dụng để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật hoặc các quy tắc, quy định”4. Trong khi đó, hệ thống Common law (hệ thống pháp luật Ănglô – xắcxông) sử dụng thuật ngữ “remedies” có nội hàm tương tự “sanctions” để chỉ đến các biện pháp đáp trả hành vi vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nói riêng5.
Ngày nay, phần lớn các nhà nghiên cứu đều thống nhất cách hiểu thuật ngữ “chế tài” theo hai nghĩa: 2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam, Tập 2, Nxb. 3 Lexique Juridiques (2016), Dalloz, 23e editionpp, tr. 4 Black, Henry Campbell (1990), Black’s Law Dictionary, 6th ed, St.Paul, MN: West Publishing p. 5 Bùi Thị Thanh Hằng (2017), ““Trách nhiệm dân sự”, “chế tài” hay “biện pháp khắc phục” đối với hành vi vi phạm hợp đồng”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 02/2017, tr.
9 Theo nghĩa rộng, chế tài là những hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi phạm phải gánh chịu do hành vi của mình gây ra. Chế tài đóng vai trò là công cụ đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật, gìn giữ trật tự, kỷ cương trong xã hội. Theo nghĩa hẹp, chế tài là một bộ phận của quy phạm pháp luật được nhà nước dự liệu nêu lên những biện pháp tác động để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh. Chế tài sẽ được áp dụng khi chủ thể vi phạm những nội dung đã được nêu ở phần quy định của quy phạm pháp luật.
Mục đích của việc đặt ra chế tài cũng hướng đến việc đảm bảo cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm minh6. Chế tài trong thương mại là một loại hình chế tài, tuy nhiên, ở hầu hết các nước đều không đưa ra định nghĩa cụ thể về thuật ngữ này. Ở Việt Nam, định nghĩa chế tài trong thương mại cũng không được ghi nhận ở bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào mà chỉ liệt kê các hình thức chế tài tại Điều 292 LTM năm 2005. Theo cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam hiện nay, chế tài trong thương mại là hình thức chế tài xác định những hậu quả pháp lý bất lợi áp dụng đối với chủ thể vi phạm hợp đồng thương mại.
Theo đó, hành vi vi phạm hợp đồng có thể là việc không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật7. Từ những phân tích trên, có thể hiểu: “Chế tài trong thương mại là hình thức chế tài áp dụng đối với chủ thể không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng. Theo đó, bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi của mình gây ra”. Chế tài trong thương mại có một số đặc điểm chủ yếu như sau: Thứ nhất, về căn cứ áp dụng chế tài trong thương mại Chế tài trong thương mại được áp dụng khi xảy ra vi phạm hợp đồng trong quan hệ thương mại.
Dựa trên nguyên tắc tự do thỏa thuận và tự nguyện cam kết, các bên có quyền xác lập hợp đồng thương mại theo mục đích kinh doanh của mình. Khi hợp đồng có hiệu lực, các bên bị ràng buộc bởi quyền và nghĩa vụ đã thỏa 6 Nguyễn Bảo Linh (2020), Chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 7 Khoản 12 Điều 3 LTM năm 2005. 10 thuận, và việc vi phạm nghĩa vụ của một bên sẽ xâm phạm quyền lợi của bên còn lại.
Bên cạnh đó, đặc điểm nổi bật của chế tài trong thương mại là chỉ được áp dụng khi bên bị vi phạm yêu cầu. Điều này khác biệt với chế tài hình sự hoặc hành chính khi có thể được thực hiện theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Mục đích chính của chế tài này hướng đến bù đắp thiệt hại và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên, không mang tính trừng phạt như chế tài hành chính hay chế tài hình sự. Thứ hai, chế tài trong thương mại chủ yếu mang tính tài sản.
Hầu hết các chủ thể khi tham gia hoạt động kinh doanh thương mại đều hướng tới mục đích lợi nhuận. Bởi vậy mà quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng của các bên thường xoay quanh quan hệ tài sản. Khi xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng, tức quyền và lợi ích hợp pháp của một bên bị ảnh hưởng, pháp luật sẽ đặt ra các chế tài nhằm bù đắp thiệt hại về tài sản cho bên bị vi phạm. Theo đó, bên vi phạm sẽ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về tài sản.
Ngoài ra, pháp luât Việt Nam cũng quy định một số chế tài không mang tính tài sản như tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng. Những biện pháp này không đòi hỏi bên vi phạm phải trả một khoản tiền nhưng vẫn bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm. Thứ ba, chế tài trong thương mại có hình thức đa dạng và được áp dụng một cách linh hoạt, tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên. LTM năm 2005 quy định sáu hình thức chế tài cơ bản và cho phép các bên tự thỏa thuận thêm các biện pháp khác, miễn là không trái với nguyên tắc của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế, hoặc tập quán thương mại quốc tế.
Điểm đặc biệt của chế tài thương mại là các bên được tự do lựa chọn và thỏa thuận biện pháp phù hợp với yêu cầu cụ thể của quan hệ thương mại. Khi xảy ra tranh chấp, các bên có thể yêu cầu cơ quan tài phán là Tòa án hoặc trọng tài (khi có thỏa thuận) giải quyết, áp dụng. Tuy nhiên, Tòa án hay trọng tài trong trường hợp này không quyết định việc áp dụng chế tài nào đối với bên vi phạm mà quyền quyết định yêu cầu thuộc về bên bị vi phạm. Tính linh hoạt này cho phép các bên điều chỉnh các biện pháp chế tài dựa trên hoàn cảnh cụ thể và mức độ nghiêm trọng của vi phạm, từ đó, tạo ra sự công bằng và minh bạch trong việc thực hiện hợp đồng.
11 Thứ tư, mục đích của việc xây dựng và áp dụng chế tài trong thương mại nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong hợp đồng, thông qua đó đảm bảo trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực thương mại. Chế tài trong thương mại không chỉ bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm mà còn đảm bảo sự công bằng trong quan hệ hợp đồng. Việc quy định rõ ràng cách thức, phạm vi, nội dung các chế tài trong thương mại góp phần hạn chế tình trạng áp dụng tùy tiện, đặc biệt là ngăn chặn bên bị vi phạm lợi dụng các chế tài để gây bất lợi cho bên vi phạm. Trên thực tế, có những trường hợp thiệt hại xảy ra không hoàn toàn do lỗi của bên vi phạm.
Do đó, việc áp dụng các chế tài trong thương mại sẽ góp phần cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong hợp đồng, hỗ trợ giải quyết tranh chấp trên thị trường kinh doanh thương mại. Từ đây làm cơ sở để đảm bảo trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Như vậy, có thể thấy, chế tài trong thương mại mang những đặc điểm riêng biệt, là yếu tố để phân biệt loại chế tài này với các chế tài trong lĩnh vực khác. Bên cạnh những chế tài do pháp luật quy định thì các bên có thể tự do thỏa thuận các hình thức chế tài khác không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế8.
Ý nghĩa của quy định chế tài trong thương mại Thứ nhất, chế tài trong thương mại góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong hợp đồng Chế tài trong thương mại được thiết kế để bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên theo thỏa thuận trong hợp đồng. Khi một bên vi phạm hợp đồng, chế tài cho phép bên bị thiệt hại yêu cầu bồi thường hoặc áp dụng các biện pháp pháp lý nhằm khôi phục lại tình trạng pháp lý hoặc kinh tế như ban đầu. Điều này đảm bảo rằng quyền lợi của các bên tham gia giao dịch thương mại được pháp luật bảo vệ một cách chặt chẽ và hiệu quả, tạo sự an tâm trong các hoạt động kinh doanh. 8 Khoản 7 Điều 292 Luật Thương mại năm 2005 12 Thứ hai, chế tài trong thương mại giúp ngăn ngừa và hạn chế hành vi vi phạm hợp đồng, nâng cao ý thức trách nhiệm của các bên trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng Việc áp dụng chế tài đảm bảo các bên tuân thủ nghiêm túc những thỏa thuận đã cam kết.
Khi có vi phạm xảy ra, các chế tài thường mang lại hậu quả pháp lý bất lợi cho bên vi phạm, tác động vào ý thức thực hiện hợp đồng. Nhờ đó, chế tài trong thương mại giúp ngăn chặn các hành vi vi phạm, góp phần bảo vệ sự ổn định và công bằng trong quan hệ thương mại.