Chương 1: Cơ sở của mối quan hệ an ninh - quốc phòng Liên bang Nga - Việt Nam giai đoạn 2001- 2015 Chương 2: Những nội dung chủ yếu trong quan hệ an ninh - quốc phòng giữa Liên Bang Nga và Việt Nam giai đoạn 2001 - 2015 Chương 3; Một số nhận xét về quan hệ an ninh - quốc phòng Liên bang Nga ~ Việt Nam giai đoạn 2001 - 2015. Nguồn tư liệu Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu của dé tai, chúng tôi khai thác và sử dụng các nguồn tư liệu chủ yếu sau đây: Các tư liệu về chính sách đối ngoại và chính sách an ninh — quốc phòng của Liên bang Nga và Việt Nam từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam. ~_ Các tuyên bố chung, các bài phát biểu, các bản tuyên bố thể hiện đường lối lãnh đạo của hai nước Liên bang Nga và Việt Nam, các tài liệu tham khảo của Thông tắn xã Việt Nam, những hiệp định, các văn bản ký kết hợp tác trên lĩnh vực an ninh - quốc phòng giữa hai quốc gia. ~_ Các sách chuyên khảo về lịch sử Liên bang Nga, lịch sử quan hệ quốc tế, các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành có nội dung liên quan trực tiếp đến đề tà ~_ Một số luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ trong chừng mực nhất định có liên quan đến đề tài.
~ Các website chính thức của Chính phủ Liên Bang Nga, Chính phủ Việt Nam và các Bộ, ban, ngành có liên quan của hai nước như: Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng. l3 NỘI DUNG Chương CO SO MOI QUAN HE AN NINH - QUOC PHÒNG LIÊN BANG NGA — VIỆT NAM GIẢI DOAN 2001 - 2015 1. Khái quát về quan hệ an ninh - quốc phòng Liên bang Nga - Việt Nam giai đoạn 1991 ~ 2000. Ngay 30/1/1950,Cl h phủ Liên Xô đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, trở thành một trong những nước đầu tiên trên thế giới công nhận về mặt ngoại giao nền độc lập của Việt Nam, đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển quan hệ mọi mặt giữa hai nước về sau này.
Trong chiến tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, Liên Xô đã ủng hộ, giúp đỡ rất to lớn cả về tỉnh thần và vật chất, đặc biệt là lĩnh vực quốc phòng và vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, góp phần quan trọng để nhân dân Việt Nam chiến đấu và đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Từ năm 1991 trở đi, dưới tác động của bối cảnh thế giới sau Chiến tranh lạnh và tinh hình thực tiễn của Liên bang Nga sau khi Liên Xô tan rã (1991), Nga theo đuổi chính sách đối ngoại mới với nhiều điều chỉnh. Theo đó, chính sách đối ngoại của Liên Nga giai đoạn này (1991 ~ 2000) trải qua hai giai đoạn chủ yếu: 1991 — 1993 (với Định hướng Đối ngoại Đại Tây Dương) và 1994 ~ 2000 (với Định hướng Đối ngoại Cân bằng Đông — Tay). Do vay, quan hệ giữa Nga với Việt Nam cũng bị tác động trực tiếp, sâu sắc.
Tir 1991 ~ 1993: chính sách đối với Việt Nam bị “bỏ ngỏ”, quan hệ Nga ~ Việt rơi vào tình trạng “đóng băng” [B. Theo đó, trên lĩnh vực an ninh — quốc phòng, Nga “xúc tiến giảm sự hiện diện quân sự tại Việt Nam, rút các lực lượng quân sự, đội ngũ chuyên gia kỹ thuật trên nhiều lĩnh vực về nước. Định hướng đối ngoại hướng Tây và sự suy yếu đáng kể sức mạnh quân sự khiến Nga 14 “Hyết định triệt thoái hầu như toàn bộ lực lượng quan sự tại vịnh Cam Ranh” [B. Thảo, tr242] Tir 1994 - 2000: xuất phát từ chính sách đối ngoại mới, nước Nga chú trọng.
hơn trong quan hệ với nước nước phương Đông. Trong quan hệ với Việt Nam, Nga xác định lại cơ sở quan hệ mới. Tháng 6-1994, trong chuyến thăm Liên bang. Nga của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, hai nước đã nhất trí thống qua “Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ hữu nghị giưa Liên bang Nga và Việt Nam” lam cơ sở pháp lý cho quan hệ hai nước.
Theo đó, Nga và Việt Nam nối lại các liên kết đã bị bỏ dỡ trước đó. Lĩnh vực an ninh ~ quốc phòng cũng được hai nước thúc đầy. Trên cơ sở khẳng định sẽ tiếp tục phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Nga, coi đó là một yếu tố không thể tách rời của nền an ninh, ôn định và sự tiến bộ ở Đông Nam Á, Nga và Việt Nam đều nhất trí đặc biệt coi trọng sự phối hợp hành động có hiệu quả trong khuôn khổ cuộc đối thoại của Nga với các nước ASEAN, mà Việt Nam là điều phối viên (1998). Trong Tuyên bố chung của hai nước nhân chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương đến Nga (25- 8-1998), sau cuộc hội đàm với Tổng thống Liên bang Nga B.
En-xin tại Mát- xcơ-va, Nga và Việt Nam đã thảo luận cụ thể về tình hình và triển vọng của việc tiếp tục phát triển quan hệ song phương, cũng như các vấn đề quốc tế quan trọng, và đã được sự nhất trí ý kiến rộng lớn. Trong đó, hợp tác trên lĩnh vực an ninh — quốc phòng được nêu rõ: “Phát triển các mối quan hệ trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự. Trong lĩnh vực này hai bên hành động triệt để tuân theo các cam kết quốc tế, thúc đây việc duy trì an ninh và ổn định toàn cầu Sự hợp tác kỹ thuật - quân sự giữa Việt Nam và Nga không nhằm chống lại các nước thứ ba không phá vỡ cán cân lực lượng ở khu vực” [Nhân dân, nị iy 26-8-1998, tr. Mặc dù có chuyển bi tích cực so với giai đoạn 1991 ~ 1993 nhưng quan hệ an ninh — quốc phòng giữa L n bang Nga giai đoạn 1991 ~ 2000, nhất là từ năm 1994 vẫn còn hạn chế và tập trung trên một số lĩnh vực giới hạn, chưa thật sự phát 15 triển.
Dù vậy, kết quả này cũng đặt cơ sở nên tang cho moi quan hệ phát triên mạnh mẽ hơn ở giai đoạn sau. Bối cảnh quốc tế và tình hình khu vực châu Áu, chau A - Thái bình Duong đầu thế kỷ XXI Những năm cuối thế kỷ XX, cục diện thế giới chuyền từ hai cực sang thế đa cực mang đặc điểm mới - đó là quá độ hòa bình, không trải qua chiến tranh nhưng lại diễn ra trong tình trạng biến động bắt trắc với các cuộc xung đột cục bộ. Các quốc gia vừa hợp tác vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau. Tình hình thế giới có những tác động tích cực nhưng cũng có không ít khó khăn cản trở đến quan hệ hợp tác của các nước trong đó có quan hệ giữa Việt Nam và Liên bang Nga.
Thứ nhất: Quá trình toàn cầu hóa ~ quốc tế hóa diễn ra mạnh mẽ trở thành xu thế khách quan bao trùm, lôi cuốn các nước vừa thúc đẩy hợp tác vừa làm tăng. sức ép cạnh tranh và tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Toàn cầu hóa là sự tiến hóa dẫn đến trạng thái hợp nhất trên nền tảng của. những đa dạng về văn hóa, tôn giáo, dân tộc., của những cách biệt về kinh tế giữa các quốc gia và thậm chí là những hình thái xã hội khác nhau với vật dẫn là sự chuyên môn hóa và phân công lao động ngày càng sâu sắc đến từng khâu nhỏ nhất của quá trình sản xuất Xu hướng toàn cầu phản ánh bản chất của nền kinh tế thị trường.
Toàn thế giới đều gia nhập một nền kinh tế, một cơ chế kinh tế duy nhất, cùng xây dựng, một chính sách kinh tế hướng ngoại và hội nhập quốc tế. Toàn cầu hóa mà trước hết là toàn cầu hóa kinh tế thế giới là hệ quả của quá trình hội nhập thường xuyên của tất cả các nền kinh tế lớn nhỏ theo những luật chơi chung được các quốc gia thừa nhận. Sự vận động của các dòng hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ kết nối thành mạng toàn câu đang làm cho nền kinh tế phụ thuộc chặt chẽ vào nhau, quy định và chỉ phối lẫn nhau dưới tác động cùng lúc của nhiều chủ thể điều tiết: quốc gia, khu vực, quốc tế và các tập đoàn xuyên quốc gia toàn cầu. 16 đổi thoại, giữa các cường quốc lớn hàng đâu thê giới đã điều chỉnh chính sách đôi ngoại theo hướng cân bằng, ổn định.
Thứ năm: Kinh tế thể giới và khu vực tiếp tục phát triển trở thành nền kinh tế năng động. Trước những thay đổi của tình hình thể giới, các nước đều phải điều chinh chiến lược phát triển, ưu tiên tập trung phát triển kinh tế bởi kinh tế là thước đo, là nhân tố quyết định đến vị thế của mỗi nước trên trường quốc tế. Toàn cầu hóa kinh tế, hợp tác kinh tế là cơ sở để hình thành liên kết về chính trị, văn hóa. Như Đảng ta đã xác định ngoại giao phải tăng cường hơn nữa công tác phục vụ kinh tế, phục vụ kinh tế xã hội cần được coi trọng bởi đó là một trong.
những nội dung được ưu tiên của hoạt động đối ngoại. Trong những năm cuối thế kỷ XX, hàng loạt các tô chức liên kết kinh tế khu vực đã ra đời như APEC (11/1989), NAFTA (12/1992), AFTA (1/1992). Dưới tác động của toàn cầu hóa, nền kinh tế tr thức hình thành với đặc trưng: tri thức. trở thành nội dung chủ yếu của sản xuất, phân phối và tiêu dùng; các ngành thông, tin như dịch vụ, tính toán trở thành ngành chủ đạo.
Nền kinh tế thông tin lấy thị trường toàn cầu làm địa bàn chính. Các thị trường tài chính thế giới và những, luồng thông tin lan truyền đến các thực thể kinh tế thông qua dao dộng của giá cả, tỷ giá. Nền kinh tế thể giới chịu tác động của làn sóng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học. Nhiều phương thức kinh doanh quản lý mới xuất hiện, nền kinh tế thị trường tràn ngập ở các châu lục.
Để thích ứng với làn sóng tự do hóa kinh tế kết giao lưu, học hỏi lẫn nhau nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển theo hướng hiện đại, hòa cùng sân chơi với các nước trong quan hệ quốc tế. Điều này khiến quan hệ quốc tế nhất là trong lĩnh vực kinh tế ngày càng phát triển theo chiều sâu. Thứ sáu: Cúc nước lớn cô sự điều chỉnh theo hướng xây dựng quan hệ bạn bè chiến lược, ồn định lâu dài. Thay vì xung đột đối đầu, các nước đã tìm kiếm 19 a biện biện pháp và xu hướng phát triên thông qua đôi thoại, thỏa hiệp tránh xung.