CHƯƠNG 1: TONG QUAN TÀI LIEU 1. Tổng quan về trà lên men 1. Giới thiệu về cây trà và trà cám 1. Giới thiệu về cây trà Phân loại thực vật, trà thuộc: - - Ngành hạt kín (Angiospermae) - Lop Song diệp tử (Dicotylednae) - Bo Sơn trà (Theals) - Ho tra (Theacea) - Chi trà (Camenllia) - Loai(Camenllia sinensis) [8].
Tra song chu yếu ở vùng nhiệt đới, ôn đới. Căn cứ vào đặc tính sinh trưởng va hình thánh của cây trà, người ta phân thành 3 loại cây khác nhau: cây bụi, cây trung bình và cây to [2]. Dựa theo đặc điểm thực vật học, đặc điểm sinh hóa, nguồn gốc phát sinh cây trà, Cohen Stuart (1919) đã chia Camellia sinensis thành 4 loại: tra Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis var. macrophylla), trà Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var.
Bohea), trà Shan (Camellia Sinensis var. Shan), trà An Độ (Camellia sinensis var. Trà là loại thực vật có từ Trung Quốc va người ta đã biết dùng tra từ 2500 năm trước công nguyên. Nhung theo thư tịch cỗ Việt Nam, cây chè đã có từ xa xưa dưới dạng: cây chè vườn hộ gia đình vùng châu thé Sông Hồng va cây chè rừng ở miền núi phía bắc.
Năm 1882, các nhà thám hiểm Pháp đã khảo sát về sản xuất va buôn bán chè giữa sông Đà và sông Mê Kông ở miễn núi phía Bắc Việt Nam. Tóm lại, đến nay các nhà khoa học thế giới đã xác nhận: Dai thể chè phát nguyên từ 1 vùng sinh thái hình quạt, giữa các ngọn đôi Naga, Manipuri và Lushai, doc theo đường biên giới giữa Assam và Mianma ở phía Tây, ngang qua Trung Quốc ở phía Đông, và theo hướng Nam chạy qua các ngọn đổi của Mianma va Thái Lan vào Việt Nam, trục Tây Đông từ kinh độ 95 đến 120 độ Đông, trục Bắc Nam từ vĩ độ 29 đến 11 độ Bắc [1]. Trà là một nguồn caffein, theophyline va chất chống oxy hóa (antioxidant) tự nhiên, nhưng nó gần như không có mỡ, carbohydrate, hay protein. Trà có vị mát mẻ và hơi đắng.
Nước trà là đồ uống phô biến thứ 2 trên thế giới, được làm bằng cách ngâm lá, chồi hay cảnh của cây trà vào nước sôi trong vải phút. Lá trà có thể được oxy hóa (ủ dé lên men), nóng lên, phơi, hay thêm vào cỏ, hoa, gia vị, hay trái cây khác trước khi ngâm vào nước [24].2: Sản phẩm trà xanh đóng gói của công ty Cầu Đất 1. Một số quy trình sản xuất trà hiện nay Hiện nay trong nước và trên thê giới có một sô quy trình sản xuât trà như quy trình sản xuât trà đen, trà trang, trà Oolong, trà vàng, trà đen, trà phô nhĩ. O nước ta chủ yêu có 3 loại trà được sản xuât đó là: - Tra đen (black tea) là trà được lên men hoàn toàn, có mùi thơm nông, màu hỗ phách hay màu đỏ nâu đậm - Tra xanh (green tea) là trà không lên men, có mùi thơm nhẹ, màu xanh.
- Tra Oolong (Oolong tea); là trà lên men một phan, có hương mùi rat thơm và bên, vi nông hau, nước xanh hoặc xanh vàng, bã xanh. Làm héo Làm héo Vv | Vô hoạt enzyme Vo trà, sàng tra | | Vo tra, sàng tra Lén men Vv | Quay thơm, tạo hình Vô hoạt enzyme Vv Vv Say khô Say khô Phan loai Phan loai | | Đấu trộn, đóng hộp Đấu trộn, đóng hộp Sản phẩm Sản phẩm trà xanh trà đen Hình 1.4: Quy trình sản xuất trà xanh và trà đen thông dụng hiện nay [53] 1. Nguyên liệu trà cam Trà cám chúng tôi sử dụng trong dé tài này có nguồn gốc từ trà xanh. Chúng là những phế phẩm trong quy trình sản xuất trà xanh của công ty TNHH trả và cà phê Cau Dat.
Quy trình san xuất trà xanh tai nhà máy của công ty Cầu Dat chu yếu trai qua các công đoạn sau: Héo năng Vv Héo mat A Vô hoạt enzyme | Vo trà Vv Tao hinh Vv Sao huong | Phân loại Sản phẩm trà xanh Hình 1.4: Quy trình thu nhận nguyên liệu trà cám từ quy trình sản xuất trà xanh 7 (| Đặc điềm của phê phầm trà cam Trà cám hay còn gọi là tra vụn là phế phẩm trong các quy trình sản xuất trà. Ở giai đoạn sao trà, các cánh, búp, và nõn trà sẽ gãy ra và rơi xuống dưới, sau khi sàng hết trà búp ra còn lại phần trà vụn ở dưới cùng được lọc ra và được gọi là trà cám. Phé pham tra cam có dang gan như dang bột, lon con, kích thước kha nhỏ bao gồm những cánh tra, búp trà va non trà gãy ra trong quá trình sao trà. Trong quá trình sao trà, phế phẩm trà cám chiếm ty lệ khá lớn so với trà thành phẩm, chiếm khoảng 10-12% trà thành phẩm [2].
Trà cám thường được sử dụng dé pha nước uống, đặc biệt là dùng dé pha trà đá hoặc dùng làm chất hút âm. Mặc dù trà cám là một loại phế phẩm, tuy nhiên chất lượng và mùi hương hay vị ngọt hậu đều không kém gì các loại trà búp. Hiện nay, phế phẩm trà cám chiếm tỷ lệ khá cao so với trà thành phẩm trong các quy trình sản xuất trà, nhưng việc tận dụng nguồn nguyên liệu này còn khá hạn chế. Vì vậy việc nghiên cứu nguồn phế phẩm này nhăm tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng đang là vẫn đề cần thiết và đang được các công ty cũng như các nhà nghiên cứu rât chú ý.
- Thanh phần hóa học của tra cám (từ quy trình sản xuất trà xanh) Bảng 1.1: Thành phần hóa học các chất có trong trà xanh Thành phân % khôi lượng chất khô Polyphenol 25-30 Epigallocatechin gallate 8-12 Epicatechin gallate 3-6 Epigallo catechin 3-6 Epicatechin 1-3 Catechin 1-2 Gallocatechin 3-4 Flavonols va flavobol glucosides 3-4 Polyphenilic acids and depsides 3-4 Leuco anthocyanins 2-3 Chlorophylls và các chất mau khác 0,5-0,6 Khoáng 5-6 Caffeine 3-4 Theobromine 0.2 Theophylline 0,5 Amino acid 4-5 Acid hữu cơ 0.6 Monosaccharide 4-5 Polysaccharide 14-22 Cellulose và hemicellulose 4-7 Pectin 5-6 Lignin 5-6 Protein 14-17 Lipid 3-5 Cac hop chat bay hoi 0. Lịch sir va phát triển trà lên men Trà lên men hay còn được biết tên với một cái tên khá phố biến là trà Kombucha là một đỗ uống lên men truyền thống với lịch sử vài ngàn năm ở phía đông và hiện nay vẫn còn khá phố biến ở phương Tây. Trà lên men được biết đến là một loại thức uống hình thành từ quá trình lên men giữa trà và đường bởi sự cộng sinh của vi khuân với nam men tạo thành một loại nắm trà [9]. Trà lên men xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc vao năm 220 trước công nguyên với loi ích được biết đến thời bay giờ là giải độc và cung cấp dinh dưỡng.
Quá trình nghiên cứu va phát triển tra lên men hiện nay đang được tiễn hành ngày một nhiều hơn xuất phát từ nhu cầu thực tế hiện nay đó là tận dụng những lợi ích của trà lên men nhằm mục tiêu giảm cân cũng như trong việc điều trị một số bệnh ung thư [24]. Trà lên men truyền thống Trà lên men truyền thống được lên men bang cách cho nấm trà vào trong dung dịch trà đường. Nguyên liệu trà được sử dụng tốt nhất là trà đen, tuy nhiên ta có thể thay thế bằng trà xanh. Quá trình lên men trả truyền thống được thực hiện như sau: hòa tan 50g đường sucrose vao 1 lít nước đun sôi, b6 sung 6g trà xanh, loại bỏ xác trà sau 5 phút và lọc lẫy nước trong, tiếp theo cho vào bình thủy tinh đã được vô trùng trước đó ở 120°C trong 20 phút đồng thời bổ sung vào bình khoảng 30g nấm trà.
Nhiệt độ ủ tương thích là từ 24-30°C trong 18 ngày [10].6: Trà lên men truyền thống hay còn gọi là Kombucha [11] 10 Trong quá trình lên men, sự chuyền đôi từ đường sucrose thành các acid hữu cơ dẫn đến sự thay đôi giá trị pH làm giảm nguy cơ tạp nhiễm giúp hình thành tính kháng khuẩn của trà [13]. Ngoài ra, một số hợp chất thơm cũng được tìm thấy trong dịch trà lên men bao gồm alcohol, aldehyde, ketnes, ester và các amino acid [17]. Lợi ích của tra lên men truyền thông đối với sức khỏe đã được người dùng chứng minh như: khôi phục màu tóc, làm tóc mọc nhiều hơn, làm tan sỏi mật, đảo ngược những dấu liệu lão hóa, giảm nông độ cholesterol và tăng huyết áp, tăng cường hệ thống miễn dịch, giảm nhẹ triệu chứng mãn kinh và cải thiện chức năng tiêu hóa và gan. Mọi người còn nói răng trả lên men có tác dụng giải độc cơ thể và thậm chí có thể ngăn ngừa được ung thư [9].
Cơ sở khoa học của quá trình lên men trà lên men Quá trình lên men trà lên men gồm hai quá trình xảy ra đồng thời là lên men rượu và lên men acetic với sự tham gia của nam men và vi khuẩn acetic. Nam men có kha năng chuyển hóa đường thành etanol và CO; trong điều kiện yếm khí. Đầu tiên, đường cùng các chất dinh dưỡng khác của môi trường lên men được hấp phụ trên bề mặt của tế bao nấm men khuếch tán qua màng bán thấm vao trong tế bao. Đường bị chuyển hóa qua một chuỗi phản ứng theo con đường đường phân để tạo pyruvate, pyruvate bị decarboxyl dưới tác dụng xúc tác cua enzyme pyruvate decarboxylase tạo thành acetaldehyde giải phóng CO2, acetaldehyde nhận H+ từ NADH tạo ethanol.
Trong quá trình lên men ethanol, nhiều acid hữu cơ được tạo thành. Một số acid hữu cơ được sinh tổng hợp từ chu trình Krebs nếu như quá trình lên men không diễn ra trong điều kiện ky khí nghiêm ngặt, các acid hữu cơ chiếm hàm lượng cao nhất trong dịch lên men là: acid citric, acid malic, acid acetic, acid lactic. Quá trình chuyển hóa ethanol thành acid acetic trong điều kiện hiếu khí dưới tác dụng của enzyme oxy hóa của vi khuẩn gọi là lên men acetic. Lên men acetic là quá trình oxy hóa tuần tự ethanol chuyển thành acetaldehyde dưới tác dụng của enzyme alcohol dehydrogenase, rồi acetaldehyde được chuyển hóa thành hydrate acetaldehyde và sau cùng hydrate acetaldehyde bi oxy hóa thành acid acetic.
11 Lên men lactic được thực hiện bởi hệ enzyme của các vi khuẩn họ Lactobacteriaceae (vi khuẩn này là vi khuẩn yếm khí hoặc vi khuẩn hiếu khí). Phụ thuộc vào hệ enzyme của từng nòi vi khuẩn trong môi trường lên men hoặc chỉ có acid lactic (lên men đồng hình) hoặc ngoài acid lactic còn có các sản phẩm khác và CO: (lên men di hình) [57]. Các thành phân trong trà lên men Theo nghiên cứu của t6 chức The American FDA and CDC, trong thành phan của trà lên men có sự hiện diện của nhiều loại acid hữu cơ như acid acetic, acid gluconic, acid glucuronic, acid citric, acid L- lactic, acid malic, acid oxalic, acid usnic.