Luận văn Thạc sĩ: Phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp tại tỉnh Đồng Nai

Tôi có thể giúp bạn tạo meta tags cho bài viết. Dưới đây là kết quả: { "ai_description": "Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp ở tỉnh Đồng

Trường đại học

Học viện Chính trị

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

110
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp tỉnh Đồng Nai

Phát triển khoa học công nghệ (KHCN) phục vụ nông nghiệp tại Đồng Nai là quá trình ứng dụng tri thức tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn. Đồng Nai, tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, sở hữu lợi thế về đất đai màu mỡ, hệ thống hạ tầng giao thông phát triển và nguồn nhân lực dồi dào. Theo Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI, KHCN được xác định là quốc sách hàng đầu, động lực quan trọng cho phát triển kinh tế-xã hội. Tại Đồng Nai, KHCN nông nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc hình thành các vùng sản xuất tập trung, ứng dụng giống cây trồng vật nuôi năng suất cao, công nghệ sản xuất tiên tiến và cơ giới hóa. Những thành tựu này đã nâng cao thu nhập cho nông dân, giảm thiểu rủi ro do biến đổi khí hậu và dịch bệnh, đồng thời thúc đẩy xã hội hóa sản xuất nông nghiệp.

1.1. Vai trò của KHCN trong nông nghiệp Đồng Nai

KHCN đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Đồng Nai. Theo thống kê, KHCN góp 30% giá trị gia tăng ngành nông nghiệp tỉnh. Các ứng dụng như công nghệ sinh học, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao đã giúp nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi. Điển hình, giống lúa mới có năng suất cao hơn 20% so với giống truyền thống, giúp nông dân tăng thu nhập đáng kể. Ngoài ra, KHCN còn hỗ trợ quản lý dịch bệnh, cải thiện chất lượng đất đai thông qua kỹ thuật canh tác tiên tiến. Những tiến bộ này đã chuyển đổi nền nông nghiệp từ sản xuất manh mún sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài tỉnh.

1.2. Bối cảnh phát triển KHCN nông nghiệp tại Đồng Nai

Đồng Nai sở hữu lợi thế về điều kiện tự nhiên thuận lợi như đất đỏ bazan phù hợp trồng cây công nghiệp, khí hậu ôn hòa quanh năm. Tỉnh cũng có hệ thống hạ tầng giao thông phát triển với cảng biển, sân bay quốc tế và mạng lưới đường bộ kết nối chặt chẽ. Sự hiện diện của các khu công nghiệp thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KHCN nông nghiệp. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ từ tỉnh như quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp chủ lực, đầu tư hạ tầng nông thôn đã thúc đẩy ứng dụng KHCN. Những yếu tố này tạo nền tảng vững chắc để Đồng Nai trở thành địa phương dẫn đầu trong ứng dụng KHCN nông nghiệp ở khu vực phía Nam.

II. Thực trạng phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp tại Đồng Nai

Hiện nay, Đồng Nai đang triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Theo báo cáo năm 2023, toàn tỉnh có 692 trang trại áp dụng công nghệ sinh học, chiếm 48% tổng số trang trại. Tuy nhiên, tỷ lệ ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp vẫn còn thấp, chỉ đạt 15% diện tích canh tác. Một trong những vấn đề nổi cộm là thiếu sự liên kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nông dân, dẫn đến tình trạng nghiên cứu không sát nhu cầu thực tế. Ngoài ra, hạ tầng phục vụ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ còn hạn chế, đặc biệt tại các huyện vùng sâu. Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể như ứng dụng công nghệ đệm lót sinh học trong chăn nuôi, nhưng tỷ lệ hộ chăn nuôi áp dụng chỉ đạt 10%. Những tồn tại này đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt từ chính quyền và các bên liên quan.

2.1. Thành tựu đạt được trong giai đoạn vừa qua

Đồng Nai đã ghi nhận nhiều thành tựu đáng kể trong phát triển KHCN nông nghiệp. Tỉnh đã hoàn thành quy hoạch phát triển nông nghiệp chi tiết cho từng xã, thị trấn, tập trung vào các sản phẩm chủ lực như cao su, hồ tiêu, điều, lúa gạo. Nhờ ứng dụng giống cây trồng mới, năng suất lúa đạt 60-70 tạ/ha, cao hơn 25% so với giống truyền thống. Trong lĩnh vực chăn nuôi, kỹ thuật chuồng kín đã giúp giảm tỷ lệ tiêu tốn thức ăn, tăng trọng nhanh, đồng thời kiểm soát dịch bệnh hiệu quả. Đặc biệt, 174 trang trại chăn nuôi heo, gà áp dụng kỹ thuật tiên tiến, chiếm 10,6% tổng số trang trại. Những thành tựu này đã góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, giảm nghèo bền vững.

2.2. Những hạn chế và thách thức còn tồn tại

Bên cạnh những thành tựu, Đồng Nai vẫn đối mặt với nhiều thách thức trong phát triển KHCN nông nghiệp. Một trong những hạn chế lớn là thiếu nguồn vốn đầu tư cho nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, dẫn đến tình trạng nghiên cứu không sát nhu cầu sản xuất. Ngoài ra, hệ thống khuyến nông còn yếu kém, thiếu đội ngũ chuyên gia đủ năng lực hỗ trợ nông dân. Tỷ lệ ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp chỉ đạt 15%, thấp hơn nhiều so với các tỉnh lân cận. Mặt khác, tình trạng biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn đang đe dọa sản xuất nông nghiệp, đòi hỏi các giải pháp công nghệ thích ứng kịp thời. Những vấn đề này cần được giải quyết triệt để để phát triển bền vững.

III. Giải pháp phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp tại Đồng Nai

Để nâng cao hiệu quả phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp, Đồng Nai cần triển khai đồng bộ các giải pháp, tập trung vào nâng cao năng lực nghiên cứu, tăng cường liên kết giữa các bên và đầu tư hạ tầng. Trước tiên, tỉnh cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học, đặc biệt là các lĩnh vực trọng điểm như giống cây trồng vật nuôi, công nghệ sinh học, quản lý dịch bệnh. Thứ hai, xây dựng hệ thống khuyến nông chuyên nghiệp, đào tạo đội ngũ chuyên gia giỏi để hỗ trợ nông dân tiếp cận công nghệ mới. Thứ ba, đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư, khuyến khích doanh nghiệp tham gia nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Ngoài ra, tỉnh cần hoàn thiện chính sách hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi cho ứng dụng KHCN. Những giải pháp này sẽ giúp Đồng Nai tận dụng tối đa tiềm năng, phát triển nông nghiệp bền vững.

3.1. Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học

Đồng Nai cần đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu khoa học, tập trung vào các lĩnh vực then chốt như giống cây trồng vật nuôi, công nghệ sinh học, quản lý dịch bệnh. Tỉnh nên thành lập trung tâm nghiên cứu nông nghiệp cấp tỉnh, phối hợp với các viện nghiên cứu, trường đại học để triển khai các đề tài nghiên cứu sát thực tế. Ngoài ra, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tiên tiến. Chính sách ưu đãi về thuế, đất đai cần được ban hành để thu hút doanh nghiệp tham gia. Đặc biệt, tỉnh cần đào tạo đội ngũ nghiên cứu viên giỏi, có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu trong nước và quốc tế.

3.2. Tăng cường liên kết và xã hội hóa đầu tư

Đồng Nai cần xây dựng hệ thống liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu, nông dân và chính quyền. Tỉnh nên thành lập các hội đồng tư vấn KHCN, tổ chức diễn đàn kết nối doanh nghiệp với nông dân để chia sẻ kinh nghiệm, ứng dụng công nghệ mới. Ngoài ra, khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư vào hạ tầng nông nghiệp, xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao. Chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp và nông dân áp dụng công nghệ tiên tiến cũng cần được triển khai. Những giải pháp này sẽ thúc đẩy xã hội hóa đầu tư, nâng cao hiệu quả ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp.

IV. Kết luận và khuyến nghị phát triển KHCN nông nghiệp Đồng Nai

Phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp tại Đồng Nai là xu thế tất yếu, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp. Những năm qua, tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết. Để phát triển bền vững, Đồng Nai cần tập trung nâng cao năng lực nghiên cứu, tăng cường liên kết giữa các bên, đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư và hoàn thiện chính sách hỗ trợ. Những giải pháp này sẽ giúp tỉnh tận dụng tối đa tiềm năng, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nâng cao thu nhập cho người dân. Đồng thời, tỉnh cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến, thích ứng với biến đổi khí hậu, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Với sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền và các bên liên quan, Đồng Nai sẽ trở thành địa phương dẫn đầu trong ứng dụng KHCN nông nghiệp.

4.1. Tóm tắt những kết quả chính

Đồng Nai đã ghi nhận những thành tựu quan trọng trong phát triển KHCN nông nghiệp, như hình thành các vùng sản xuất tập trung, ứng dụng giống cây trồng vật nuôi năng suất cao, công nghệ sản xuất tiên tiến. KHCN góp 30% giá trị gia tăng ngành nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người dân. Những tiến bộ này đã chuyển đổi nền nông nghiệp từ sản xuất manh mún sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Tuy nhiên, tỷ lệ ứng dụng công nghệ cao vẫn còn thấp, hạ tầng nghiên cứu hạn chế, thiếu liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân. Những vấn đề này cần được giải quyết triệt để để phát triển bền vững.

4.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Trong giai đoạn tới, Đồng Nai cần tập trung vào ba định hướng chính: thứ nhất, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm; thứ hai, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu, nông dân; thứ ba, đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư, khuyến khích doanh nghiệp tham gia. Tỉnh cần hoàn thiện chính sách hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi cho ứng dụng KHCN. Ngoài ra, tỉnh cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến, thích ứng với biến đổi khí hậu, đảm bảo an ninh lương thực. Những định hướng này sẽ giúp Đồng Nai trở thành địa phương dẫn đầu trong ứng dụng KHCN nông nghiệp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/05/2026
Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp ở tỉnh đồng nai hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH ĐỒNG NAI 1. Quan niệm về khoa học và công nghệ; phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp 1. Quan niệm về khoa học và công nghệ Để đưa ra quan niệm đúng, khách quan về KHCN, trước hết cần tìm hiểu thế nào là khoa học, công nghệ. Từ khảo sát kết quả một số công trình khoa học cho thấy, tuy cách tiếp cận khác nhau song đều có chung kết luận: Thứ nhất, khoa học là khái niệm liên quan đến nhiều lĩnh vực: khoa học là một hình thái ý thức xã hội, một công cụ của nhận thức; khoa học là một hoạt động xã hội của con người; khoa học là hệ thống tri thức của nhân loại được thể hiện bằng những khái niệm, phạm trù, học thuyết… Ngoài ra, khoa học còn được hiểu là quá trình hoạt động của con người để có hệ thống tri thức về thế giới tự nhiên và xã hội nhằm làm cho con người nắm được bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy, trên cơ sở đó làm chủ điều kiện sống và cải tạo thế giới tự nhiên.

Thứ hai, công nghệ là hệ thống tri thức gắn liền và tương ứng với một tập hợp kỹ thuật như máy móc, thiết bị… bao gồm hệ thống tri thức về kỹ năng, bí quyết, kinh nghiệm… được sử dụng theo một quy trình hợp lý để vận hành, tập hợp kỹ thuật đó, tác động vào đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người. Nếu trước đây công nghệ dùng trong lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất, thì hiện nay khái niệm đó được sử dụng với nghĩa rộng hơn, không chỉ trong sản xuất, mà được sử dụng ở tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong nhiều thế kỷ, khoa học phát triển độc lập, nhưng từ đầu thế kỷ 20 đến nay, mối quan hệ giữa KHCN với đời sống càng chặt chẽ. Chính sự gắn kết đó đã tạo ra cách mạng khoa học, trong đó 11 cách mạng KHCN đang diễn ra là cuộc cách mạng đột phá, làm cho KHCN trở thành LLSX trực tiếp, đưa LLSX lên một bước phát triển mới.

Ở nước ta, trong các loại từ điển tiếng Việt hay hệ thống luật và các văn bản về KHCN, hoặc liên quan đến KHCN đều chưa có khái niệm KHCN. Ngay cả Luâ ̣t Khoa học và Công nghê ̣ là bộ luâ ̣t luâ ̣t gốc về lĩnh vực KHCN ban hành năm 2013, cũng chưa có khái niệm KHCN mà chỉ có một số khái niệm liên quan đến KHCN như: Khoa học; Công nghệ; Hoạt động KHCN. Theo Luật KHCN năm 2013 thì: “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy”; “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”; “Hoạt động KHCN là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ KHCN, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển KHCN”[40]; “Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn”[40]. Ngoài ra còn có một số khái niệm khác liên quan đến hoạt động khoa học, theo đó hoạt động khoa học được hiểu là “tất cả các hoạt động có hệ thống liên quan đến việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức khoa học.

Nội dung chủ yếu của hoạt động khoa học bao gồm: Hoạt động nghiên cứu khoa học, dịch vụ khoa học và kỹ thuật”[36; tr. Theo tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của LHQ, hoạt động KHCN là hoạt động có liên quan tới sự ra đời, phát triển, truyền bá và ứng dụng tri thức khoa học, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển KTXH và chất lượng cuộc sống. Từ các quan niệm trên cho thấy, dù diễn đạt hay không diễn đạt là một hoạt động, thì khoa học, công nghệ, hay hoạt động KHCN vừa là hoạt động 12 của xã hội, mà trực tiếp là hoạt động có mục đích của con người, đồng thời là sản phẩm do con người sáng tạo ra nhằm phát triển KTXH, nâng cao chất lượng cuộc sống. Với cách tiếp cận này, thì khái niệm hoạt động KHCN trong Luật KHCN cũng là khái niệm KHCN; theo đó, Khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ KHCN, phát huy sáng kiến và hoạt động đổi mới, sáng tạo khác nhằm nâng cao hiệu quả phát triển KTXH, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.

Quan niệm về khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp Cho đến nay, tuy chưa có quan niệm về KHCN phục vụ nông nghiệp; song thực tế đang sử dụng một số thuật ngữ phản ánh nội hàm quan niệm này như: KHCN nông nghiệp, phát triển KHCN nông nghiệp. Vì vậy, để có quan niệm đúng về phát triển KHCN phục vụ nông nghiệp trước hết cần thống nhất nhận thức về nội hàm thuật ngữ KHCN phục vụ nông nghiệp và thuật ngữ KHCN nông nghiệp. Sở dĩ như vậy là bởi đang tồn tại hai thuật ngữ, theo đó sẽ là hai quan niệm khác nhau nếu không thống nhất sẽ gây hiểu lầm giữa hai thuật ngữ, đó là: KHCN nông nghiệp; KHCN phục vụ nông nghiệp. Thuật ngữ KHCN nông nghiệp được sử dụng trong hai văn kiện: Thứ nhất, Chiến lược phát triển KHCN giai đoạn 2011-2020 (Quyết định số 418/QĐ-TTg, ngày 11/04/2012 của Thủ tướng Chính phủ) trong đó nêu: “KHCN nông nghiệp”[11]; Thứ hai, Nghị quyết Trung ương Sáu khóa XI về phát triển KHCN phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, trong đó nêu: “Tiếp tục phát triển KHCN nông nghiệp…”[28; tr.

Hai văn kiện này tuy đề cập đến thuật ngữ KHCN nông nghiệp, nhưng chưa đề cập quan niệm KHCN nông nghiệp, hay phát triển KHCN nông nghiệp, song nội hàm thuật ngữ này đã được làm rõ. Trong Chiến lược phát triển KHCN giai đoạn 2011-2020 theo Quyết định số 418/QĐ-TTg, ngày 11/04/2012 của Thủ tướng có 9 lĩnh vực KHCN, 13 bao gồm: KHCN nông nghiệp; KHCN y, dược; KHCN năng lượng; KHCN giao thông vận tải; KHCN xây dựng; KHCN biển; KHCN quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên; KHCN vũ trụ; KHCN ở các vùng, địa phương. Như vậy, thuật ngữ KHCN nông nghiệp là thuật ngữ phản ánh tính chuyên sâu, chuyên biệt của KHCN nông nghiệp. Đây là thuật ngữ phân biệt sự khác nhau giữa KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp với KHCN trong các lĩnh vực khác như: y, dược; năng lượng; giao thông vận tải; xây dựng; biển; quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên; vũ trụ; vùng, địa phương.

Điều này có nghĩa, vì tính chuyên sâu mà KHCN nông nghiệp chỉ có thể phục vụ cho lĩnh vực nông nghiệp, không sử dụng được cho lĩnh vực khác. Ngược lại, thuật ngữ KHCN phục vụ nông nghiệp mà tác giả luận văn sử dụng sẽ có ý nghĩa rộng hơn; nó không chỉ có KHCN nông nghiệp, mà còn bao gồm một số lĩnh vực KHCN đa tác dụng, hay công nghệ lưỡng dụng vừa có thể sử dụng cho các lĩnh vực khác, vừa phục vụ lĩnh vực nông nghiệp. Ví dụ: KHCN biển; KHCN quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên; công nghệ môi trường; công nghệ sinh học… là những lĩnh vực KHCN lưỡng dụng có thể sử dụng cả trong lĩnh vực nông nghiệp và nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Từ những vấn đề trên có thể đưa ra quan niệm: KHCN phục vụ nông nghiệp là một bộ phận của KHCN, bao gồm KHCN nông nghiệp và KHCN ở một số lĩnh vực liên quan có thể sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp.

Quan niệm về phát triển khoa học và công nghệ Cho đến nay, thuật ngữ phát triển đã trở nên quen thuộc không chỉ ở nước ta, mà ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế, bởi thuật ngữ này được sử dụng rất phổ biến ở nhiều lĩnh vực, trong các văn kiện (quốc gia, quốc tế), các hội nghị (quốc gia, quốc tế), các hoạt động khoa học và đời sống sinh hoạt đời thường. Mặc dù thuật ngữ phát triển được sử dụng rất phổ biến như vậy, nhưng chưa có khái niệm phát triển đầy đủ, mà thuật ngữ này được sử dụng như một tiếp đầu từ. Vì vậy, cũng như khái niệm KHCN, trong hệ 14 thống luật và các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta về KHCN chưa có khái niệm phát triển KHCN, mà chỉ có một số khái niệm liên quan như: Phát triển công nghệ; Dịch vụ KHCN…; trong đó “Phát triển công nghệ là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới”[40]; “Dịch vụ KHCN là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ, hạt nhân và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu KHCN trong các lĩnh vực KTXH”[40]. Mặt khác, theo tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên hiệp quốc, phát triển công nghệ là tác động vào công nghệ hiện có nhằm làm cho công nghệ ấy hoàn thiện hơn, trên cơ sở đó ứng dụng vào sản xuất và đời sống xã hội.

Phát triển công nghệ bao gồm hai qúa trình: phát triển công nghệ theo chiều rộng và phát triển công nghệ theo chiều sâu. Theo đó, quá trình tiếp tục hoàn thiện công nghệ để ứng dụng rộng rãi trong sản xuất được gọi là phát triển công nghệ theo chiều rộng; hay còn gọi là phổ biến tri thức công nghệ trong sản xuất. Quá trình phát triển công nghệ theo chiều sâu là quá trình cải tiến công nghệ để nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ