Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và các nghiên cứu liên quan Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị 1.8 Đóng góp của đề tài Như đã đề cập ở phần trên, biến động tỷ giá hối đoái là một trong những biến số được quan sát, kiểm tra nhiều về mặt lý thuyết và thực nghiệm, những ảnh hưởng của biến động tỷ hối đoái giá lên giá trị xuất nhập khẩu theo từng nhóm hàng chưa được thực hiện giữa Trung Quốc và Singapore. Do vậy bài nghiên cứu này đưa ra một cái nhìn tổng quát về tác động của biến động tỷ giá hối đoái lên thương mại quốc tế. Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu là các nhóm hàng xuất nhập khâu của Trung Quốc với đối tác Singapore. Bài nghiên cứu này có thể giúp các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đưa ra các chiến lược kinh doanh của mình khi đối mặt với biến động tỷ giá hối đoái.
Bên cạnh đó, dựa vào bài nghiên cứu này, chính phủ cúa các quốc gia có thể có những tác động thích hợp thông qua chính sách tiền tệ nhằm ôn định nền kinh tế của quốc gia mình. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Lý thuyết thương mại Theo Adam Smith năm 1776, lý thuyết thương mại kinh tế cô điển cho rằng một quốc gia có lợi thế tuyệt đối khi quốc gia đó có khả năng sản xuất hàng hoá hoặc dịch vụ nhiều hơn các quốc gia khác có sử dụng cùng một lượng tài nguyên. Dau thé ky 19, David Ricardo đã phát triển lý thuyết lợi thế so sánh, nhắn mạnh lý thuyết thương mại quốc tế, ông nói rằng: Quốc gia có lợi thế so sánh trong sản xuất một sản phẩm nếu chỉ phí sản xuất sản phẩm này thấp hơn đối với quốc gia khác. Hơn nữa, nếu mỗi quốc gia xuất khâu sản phâm có lợi thế so sánh lớn hơn nhiều so với một quốc gia khác, thì cả hai quốc gia đều có thê đạt được lợi ích từ thương mại giữa hai quốc gia (Krugman và Obstfeld, 2008, trang 29), bởi vì mỗi quốc gia có lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm và kém lợi thế so sánh về sản xuất các sản phẩm khác, do đó mỗi quốc gia sẽ sản xuất và xuất khâu sản phâm mà quốc gia mình có lợi thế so sánh, kết quả là mỗi quốc gia đều có lợi ích từ thương mại quốc tế.
Tuy nhiên, mô hình Ricardo chỉ được tiếp cận bằng cách so sánh sự khác biệt trong năng suất lao động. Phát triển từ lý thuyết thương mại của David Ricardo, hai nhà kinh tế Thụy Điển Eli Heckscher va Bertil Ohlin đã cố gắng giải thích tại sao một số quốc gia có lợi thế so sánh đối với một số hàng hóa với giả định không có sự khác biệt về trình độ công nghệ giữa hai quốc gia. Theo mô hình Heckscher-Ohlin (H-O), một quốc gia sẽ xuất khẩu các sản phẩm sử dụng yếu tố dồi dào của quốc gia đó và nhập khẩu các sản phẩm sử dụng các yếu tố khan hiếm của quốc gia đó (Blaug, 1992, trang 190). Trong thực tế, khi hàng hóa được trao đổi trực tiếp với hàng hóa khác dựa trên giá tương đối, thì sử dụng tiền hoặc tương đường tiền trong giao dịch.
Do đó, mỗi quốc gia có đồng tiền riêng của quốc gia mình và sự thay đôi tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng tới các quốc gia khác. Đó là lý do tại sao quản lý tỷ giá hối đoái được coi như là một trong những nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia.2 Chế độ tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái là giá cả của đồng tiền quốc gia này tính theo đồng tiền quốc gia khác, nó có vai trò rất quan trọng trong thương mại quốc tế vì nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến tài khoản vãng lai và các biến số kinh tế vĩ mô khác. Trong một nền kinh tế mở, tỷ giá hối đoái cho phép chúng ta so sánh giá cả hàng hóa, dịch vụ sản xuất tại các quốc gia khác nhau. Các công ty sử dụng tỷ giá hối đoái để quy đổi giá bằng đồng ngoại tệ thành giá bằng đồng nội tệ.
Hơn nữa, trong hợp đồng mua bán, giá hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu có thể được thể hiện bằng một loại tiền cụ thể, đây là lý do tại sao biến động tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến thương mại quốc tế. Thay đối tỷ giá hối đoái được mô tả như mất giá hoặc tăng giá của một loại tiền tệ so với một loại tiền tệ khác. Sự sụt giảm giá trị của của một loại tiền tệ so với một loại tiền tệ khác được coi là một sự bất lợi của đồng tiền đó. Tỷ giá hối đoái thay đổi sẽ ảnh hưởng đến xuất khâu, nhập khâu của một quốc gia như sau: Theo Krugman và Obstfeld (2008, trang 320-321), khi đồng nội tệ tăng giá, người tiêu dùng ngoài nước phải trả nhiều hơn nếu muốn sử dụng hàng hóa của quốc gia có đồng tiền tăng giá, và người tiêu dùng trong nước chỉ trả ít hơn cho hàng hóa nhập khẩu ngoài nước.
Khi động nội tệ giảm giá, người tiêu dùng ngoài nước nhận thấy rằng, giá hàng hóa, dịch vụ nhập khâu rẻ hơn và người tiêu dùng trong nước thấy rằng giá hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu đắt hơn. Một sự gia tăng giá trị đồng tiền của một quốc gia sẽ làm tăng giá tương đối của hoạt động xuất khẩu và làm giảm giá tương đối của hoạt động nhập khâu. Ngược lại, một sự giảm giá đồng tiền của một quốc gia sẽ làm giảm giá tương đối của hoạt động xuất khẩu và tăng giá tương đối của hoạt động nhập khâu. Hơn nữa, có hai nguyên tắc cơ bản để xác định giá của một đồng tiền so với đồng tiền khác, đó là dựa vào tỷ giá hối đoái cố định hoặc tỷ giá hối đoái thả nỗi.
Tỷ giá hối đoái cố định là tỷ giá mà nhà nước ấn định cố định trong tương quan giữa giá cả đồng nội tệ và ngoại tệ, tỷ giá hối đoái thả nổi là tỷ giá được xác lập dựa trên cung cầu ngoại hối. Trong thực tế, tùy thuộc vào mỗi nền kinh tế, ngân hàng trung ương sẽ lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái phù hợp để bảo đảm sự ổn định và tránh lạm phát. Một trong những ưu điểm đáng chú ý của tỷ giá hối đoái thả nổi là giải quyết vẫn đề cán cân thương mại. Như đề cập trước đó, một sự giảm giá đồng nội tệ có thể làm cho giá hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu rẻ hơn và giá hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu đắt hơn.
Kết quả là, lượng cầu hàng hóa xuất khâu ra nước ngoài gia tăng, lượng cầu đối với hàng hóa nhập khâu sụt giảm và cán cân thanh toán được cải thiện. Ngược lại, một sự tăng giá đồng nội tệ sẽ làm cho mức thặng dự của cán cân thanh toán bị loại bỏ. Tuy nhiên, thực tế rằng, một sự thay đổi giá trị đồng nội tệ dẫn đến một sự không chắc chắn trong thương mại quốc tế. Người bán có thể không biết chắc là họ sẽ nhận được bao nhiêu tiền khi xuất khâu hoặc giá thực tế nhận được bao nhiêu.
Thay đổi tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng lên giá cũng như doanh số khi xuất khẩu. Tương tự, nhà nhập khẩu không biết họ sẽ tốn bao nhiêu tiền để nhập khâu số lượng hàng hóa đó. Sự không chắc chắn này có thể bị sụt giảm bằng cách tránh rủi ro tỷ giá trên thị trường tương lai hoặc thị trường kỳ hạn 2.3 Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái lên thương mại quốc tế Trong thực tế, các hành vi thương mại được điều chỉnh theo sự biến động tỷ giá. Ngoài ra, ảnh hưởng này khác nhau trong ngắn hạn và dài hạn.
Trong phần này, có ba lý thuyết quan trọng giải thích cho vấn đề "tác động của biến động tỷ giá vào thương mại quốc tế" 2.1 Hiệu ứng phá giá tiền tệ - Điều kiện Marshall-Lerner (ML) Phân tích ML cỗ gắng xác định các điều kiện mà theo đó đồng nội tệ giảm giá sẽ cải thiện cán cân thương mại của quốc gia (Menzies, 2005). Mặt khác, giảm giá đồng nội tệ (tỷ giá tăng, phá giá tiền tệ) sẽ kéo theo giá hàng hóa xuất khẩu giảm xuống, do đó lượng cầu của hàng hóa xuất khâu sẽ tăng lên. Bên cạnh đó, giá hàng hóa nhập khẩu tăng lên và lượng cầu của hàng hóa nhập khâu giảm xuống. Hiệu quả ròng của phá giá lên cán cân thương mại sẽ phụ thuộc vào độ co giãn theo giá.
Giả định cán cân vãng lại ban đầu bằng 0, Điều kiện Marshall-Lerner cho rang phá giá đồng nội tệ sẽ cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn nếu tông độ co giãn xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn 1. Trường hợp ngược lại, tổng độ co giãn xuất khẩu và nhập khâu nhỏ hơn 1 thì sẽ không cải thiện cán cân thương mại (Appleyard và Field, 1986). Nếu hàng hóa xuất khẩu co giãn theo giá, lượng cầu hàng hóa xuất khâu tăng lên với tỷ lệ lớn hơn tỷ lệ sụt giảm trong giá, và tổng doanh thu xuất khẩu sẽ tăng lên. Tương tự, nếu hàng hóa nhập khâu co giãn theo gid, tong chi phí hàng hóa nhập khẩu sụt giảm.
Cả hai điều này đều cải thiện cán cân thương thương mại. Đối với các quốc gia đang phát triển, tổng này thường nhỏ hơn 1 và do đó phá giá không có lợi cho ngoại thương, trong khi tại các quốc gia phát triển, chỉ cần giảm tỷ giá nhẹ chưa cần phá giá thì đã giúp cải thiện cán cân thương mại (Appleyard va Field, 1986). Tuy nhiên, liệu rằng kết quả từ các nghiên cứu thực nghiệm về thương mại quốc tế đúng với điều kiện ML hay không vẫn là câu hỏi đối với nhiều nhà kinh tế. Đội nghiên cứu của IMF (1984) phát hiện ra rằng độ co giãn xuất khẩu, nhập khâu không được cải thiện trong ngắn hạn (trong vòng từ hai quý đến bốn quý).
Vì vậy, Điều kiện Marshall-Lerner không thỏa mãn đối với hầu hết các quốc gia. Hơn nữa, Boyd, Caporale và Smith (2001) cho thấy rằng độ co giãn xuất khẩu, độ co giãn nhập khẩu tương đối thấp và điều kiện Marshall-Lerner không đúng. Trong trường hợp này, sự tồn tại đường cong J được sử dụng để giải thích tại sao “khi phá giá đồng nội tệ, cán cân thương mại xấu đi trong ngắn hạn”.2 Hiệu ứng đường cong J Hiệu ứng đường cong J là sự phát triển của điều kiện Marshall-Lerner khi tai khoản vãng lai được giả định tồn tại trong thời gian dài (Gartner, 1993).