Chương 1: Cơ sở khoa học về kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã qua Kho bạc Nhà nước. Chương 2: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã qua Kho bạc Nhà nước Phú Vang. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã qua Kho bạc Nhà nước. e 6 Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KIỂM SOÁT CHI THƢỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH XÃ QUA KHO BẠC NHÀ NƢỚC 1.
Tổng quan về kiểm soát chi thƣờng xuyên ngân sách xã qua Kho bạc Nhà nƣớc 1. Khái quát về chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp xã 1. Khái niệm chi ngân sách nhà nước và chi thường xuyên ngân sách nhà nước Tại khoản 4, điều 4, Luật NSNN 2015 (số 83/2015/QH13 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25/6/2015): “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” “ Chi NSNN là những khoản chi tiêu do Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một năm Chi NSNN thể hiện các quan hệ tiền tệ hình thành trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho các chi phí bộ máy Nhà nước và thực hiện chức năng chính trị, kinh tế, xã hội của Nhà nước” .12] Chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Về thực chất, chi NSNN chính là việc cung cấp các phương tiện tài chính cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước.
Cho nên, chi NSNN có những đặc điểm sau: e 7 - Chi NSNN luôn gắn với nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước phải đảm nhận. Mức độ và phạm vi chi tiêu NSNN phụ thuộc vào nhiệm vụ của Nhà nước trong t ng thời kỳ. - Chi ngân sách nhà nước gắn với quyền lực nhà nước, mang tính chất pháp lý cao. Ở Việt Nam, Quốc hội là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung và mức độ các khoản chi NSNN.
- Tính hiệu quả của các khoản chi NSNN được thể hiện ở tầm vĩ mô và mang tính toàn diện cả về kinh tế, xã hội, chính trị và ngoại giao. - Các khoản chi NSNN đều là các khoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp. Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt giữa các khoản chi NSNN với các khoản tín dụng, các khoản chi cho hoạt động kinh doanh. - Các khoản chi của ngân sách nhà nước gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tiền lương, tín dụng và các phạm trù khác thuộc lĩnh vực tiền tệ.
Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. “ Chi thường xuyên ngân sách nhà nước: là các khoản chi có thời hạn tác động ngắn thường dưới một năm, chi để mua các hàng hoá và dịch vụ không lâu bền, thường mang tính chất lặp đi lặp lại thường xuyên phục vụ các nhu cầu hoạt động thường xuyên của các tổ chức công” [25, tr. Đây là các khoản chi chủ yếu phục vụ chức năng quản lý, điều hành xã hội một cách thường xuyên của Nhà nước. Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính của Nhà nước nhằm trang trải những nhu cầu của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội thuộc khu vực công, qua đó thực hiện e 8 nhiệm vụ quản lý nhà nước ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ môi trường và các hoạt động sự nghiệp khác.
Nói tóm lại, chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn t quỹ NSNN để đáp ứng nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội. 1 1 1 2 Đặc điểm chi thường xuyên ngân sách nhà nước Nguồn lực tài chính trang trải cho các khoản chi thường xuyên được phân bố tương đối đều giữa các quý trong năm, giữa các tháng trong quý, giữa các năm trong kỳ kế hoạch. Việc sử dụng kinh phí thường xuyên được thực hiện thông qua hai hình thức cấp phát thanh toán và tạm ứng. Cũng như các khoản chi khác của NSNN, việc sử dụng kinh phí thường xuyên phải đ ng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.
Chi thường xuyên chủ yếu là chi cho con người, sự việc nên không làm tăng thêm tài sản hữu hình của quốc gia. Hiệu quả của chi thường xuyên không thể đánh giá, xác định cụ thể như chi cho đầu tư phát triển. Hiệu quả của nó không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà được thể hiện qua sự ổn định chính trị-xã hội t đó th c đẩy sự phát triển bền vững của đất nước. Với đặc điểm trên cho thấy vai trò chi thường xuyên có thể ảnh hưởng rất quan trọng đến đời sống kinh tế - xã hội của một quốc gia.
Phân loại chi thường xuyên ngân sách nhà nước Căn cứ vào tính chất kinh tế, chi thường xuyên bao gồm 4 nhóm mục cụ thể như sau: e 9 - Nhóm các khoản chi thanh toán cho cá nhân gồm: tiền lương; phụ cấp lương; học bổng học sinh, sinh viên; tiền thưởng; phúc lợi tập thể; chi về công tác người có công với cách mạng và xã hội; chi lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội; các khoản thanh toán khác cho cá nhân. - Nhóm các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn gồm: thanh toán dịch vụ công cộng; vật tư văn phòng; thông tin tuyên truyên liên lạc; hội nghị; công tác phí; chi phí thuê mướn; chi sửa chữa thường xuyên; chi phí nghiệp vụ chuyên môn của ngành. - Nhóm các khoản chi mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định và xây dựng nhỏ gồm: sửa chữa nhỏ tài sản cố định phục vụ chuyên môn và các công trình cơ sở hạ tầng; chi mua tài sản vô hình; mua sắm tài sản dùng cho chuyên môn. - Nhóm các khoản chi thường xuyên khác.
Căn cứ theo lĩnh vực chi, chi thường xuyên bao gồm: - Chi cho các đơn vị sự nghiệp: Đây là các khoản chi cho các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm cung cấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tạo động lực để nâng cao năng suất lao động, th c đẩy phát triển kinh tế theo chiều sâu. Cụ thể: Chi cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế của nhà nước; Chi cho hoạt động các đơn vị sự nghiệp văn hóa – xã hội; Chi cho hoạt động khoa học công nghệ; Chi cho hoạt động giáo dục, đào tạo; Chi cho hoạt động sự nghiệp y tế; Chi cho hoạt động sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao; Chi cho hoạt động xã hội. - Chi cho các hoạt động quản lý nhà nước (chi quản lý hành chính): à các khoản chi để đảm bảo hoạt động của hệ thống các cơ quan quản lý nhà e 10 nước t trung ương đến địa phương như chi cho hệ thống cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính, cơ quan chuyên môn các cấp, viện kiểm sát và tòa án. - Chi cho hoạt động an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội: Khoản chi cho an ninh nhằm đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tạo ra sự yên bình cho người dân.
Chi quốc phòng nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, chống lại sự xâm lấn của các thế lực bên ngoài. - Chi khác: ngoài các khoản chi trên, một số khoản chi không phát sinh đều đặn và liên tục trong các tháng của năm nhưng vẫn thuộc về chi thường xuyên như chi trợ giá theo chính sách của nhà nước, chi trả lãi tiền vay do chính phủ vay, chi h trợ quỹ bảo hiểm xã hội. 1 1 1 4 Chi thường xuyên ngân sách xã Ngân sách xã là một cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống NSNN, nó đại diện và đảm bảo tài chính cho chính quyền xã có thể chủ động khai thác những thế mạnh có sẵn để phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội, giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn xã. Ngân sách xã do Ủy ban Nhân dân (UBND) xã xây dựng, quản lý; Hội đồng Nhân dân (HĐND) xã quyết định, giám sát.
Chi ngân sách xã bao gồm các khoản chi nhằm duy trì hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng, đoàn thể cấp xã và các khoản chi về quản lý và phát triển kinh tế - xã hội thuộc chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã. Việc phân cấp nhiệm vụ chi cho ngân sách xã phải căn cứ vào chế độ phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của Nhà nước, các chính sách chế độ về hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; đồng thời phải phù hợp với trình độ, khả năng quản lý của chính quyền xã. Chi thường xuyên ngân sách xã là quá trình ủy ban nhân dân và hội đồng nhân dân xã phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính của Nhà nước nhằm e 11 trang trải những nhu cầu của bộ máy quản lý hành chính nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội thuộc sự quản lý của xã, qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ môi trường và các hoạt động sự nghiệp khác theo sự phân công nhiệm vụ của cấp trên.