phần Mở đầu, Két luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn. gồm ba chương: Chương Ì: Văn xuôi Đoàn Lê trong dòng chảy văn xuôi nữ Liệt Nam sau 1986. Chương 2: Chân dưng cuộc sống con người từ thể giới nhân vật trong văn xuôi Đoàn Lê. Chương 3: Nghệ thuật xây dựng thế giới nhân vật trong văn xuôi Đoàn Lẻ.
CHUONG 1 VAN XUOI DOAN LE TRONG DONG CHAY VAN XUOI NU VIET NAM SAU 1986 1. NHỮNG DIEM NOI BAT CUA VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM SAU 1986 1. Sự chiếm lĩnh của yếu tố tự thuật Tự thuật hay còn gọi là tự truyện (tiếng Anh: autubiographi, tiếng Pháp: autubiographie) ra đời từ văn hóa Tây Âu cận đại mang tinh thần tự phân tích. và cảm quan cá nhân chủ nghĩa.
Khác với những dạng thức của tiểu sử nhà văn như sơ yếu lý lịch, các bản tự thuật trả lời phỏng vấn báo chí hay gửi kèm. theo khi công bé tác phẩm của mình, tự thuật là thể loại giáp ranh mong manh. giữa hồi ký, nhật ký và tiểu sử, hàm chứa những yếu tố nội tại riêng cho phép. sắp xếp, tái cấu trúc những sự kiện rời rạc bằng yếu tổ giá tưởng, hư cấu và bằng trí nhớ của tác giả.
Để có cơ sở nghiên cứu, người viết dựa trên định nghĩa của Hồ Khánh Vị , xem “tự thuật vừa là điểm nhìn, là vi trí mà từ đấy, các cây bit nữ khái quát hóa và tái hiện đời sống hiện thực, là cảm hứng sáng tác hình thành nên thế giới của tác phẩm từ khuynh hướng tư tưởng, nội dung phản ảnh cho đến bút pháp nghệ thuật, là hệ sinh thể hình tượng hiện hữu trên 'bể mặt tác phẩm” [59] 'Văn học sau 1986 đã thúc đây sự cầm bút của hàng loạt cây bút nữ như: Đoàn Lê, Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Dạ Ngân, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh, Lý Lan, Võ Thị Hảo. Với lối viết vừa bộc lộ, vừa thể hiện mình các nhà văn nữ đã tái sinh chính họ thông, qua những đứa con tỉnh Từ đó yếu tổ tự thuật trở thành phương thức. sáng tạo khá phổ biển trong sáng tác của nữ giới. Những tác phẩm mang yếu tố tự thuật được ví như những cuốn phim tài liệu cũ mà nhân vật chính là nhà.
văn, cuộc đời của họ nay được làm mới bằng những con chữ. Ở đó nó mỗ xẻ, lý giải, chiêm nghiệm những gì đã qua trong cuộc đời con người. Bên cạnh đó, yếu tố hư cấu, tưởng tượng có dụng ý cũng được tác giả sử dụng để làm. cho tác phẩm thêm phần sinh động và hấp dẫn người đọc.
Trong sáng tác của nhiều nhà văn nam, yếu tố tự thuật được tạo ra theo khái niệm tự thuật đúng nghĩa, tức họ khám phá và khẳng định bản thể của mình thông qua khách thể bằng cách khái quát hóa. Đối với tự thuật trong sáng tác của các nhà văn nữ lại xuất phát từ cá nhân tác giả nhằm phục vụ cho nhu cầu, mục đích chung. của phái mình. Dễ hiểu vì sao chúng ta thường bắt gặp hay nhận thấy phảng.
phất bóng dáng của nhà văn trong những tác phẩm. Hiện tượng chiếm lĩnh của yếu tố tự thuật trong dòng chảy văn xuôi nữ: giai đoạn sau 1986 bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, tự thuật gắn liền với mục đích viết của nhà văn như là một nhu cầu của cá nhân đối với cộng đồng. Từ đó họ sử dụng tự thuật làm phương thức sáng tác cơ bản để khắc họa chân dung của chính mình.
Thứ hai, xuất phát từ đặc trưng sinh hoc và đặc trưng bản thể trong mối quan hệ liên kết với nhau hình thành nên khuynh hướng tự thuật ở nữ giới. Vốn dĩ phụ nữ là những người có cảm xúc và tri giác về bản thân rất sâu sắc, nhạy bén, họ thiên về đời sống tình cảm, là “những ăng ten bắt sóng tắn số phát ra từ bản thân và hắp thụ chúng một cách. mãnh liệt rồi sau đó tự tỏa ra những băng tần số tái hiện thế giới đã được cảm thu, tri giác, chuyển hóa” [59]. Thứ ba, xuất phát từ khuynh hướng yêu bản than và sống hướng nội.
Những mối quan hệ chính yếu và quan trọng nhất của họ xoay quanh và bó hẹp trong phạm vi của gia đình. Các quan hệ bên ngoài xã hội bị hạn chế, bị cản trở từ nhiều quan niệm sai lầm về vai trò và chức. năng của người phụ nữ trong gia đình. Trong sự thụ động tĩnh tại ấy, người phụ nữ lấy mình làm đối tượng cảm nhận, khám phá chính và khát khao sự đồng cảm.
Thứ tư, bắt nguồn từ nguyên nhân cấu trúc nội tại trong nền văn. Bằng những trang văn thiên về miêu tả cảm xúc, ý thức về không gian, thời gian tâm lý, điểm nhìn trần thuật thường là điểm nhìn nội quan, nhân vật trung tâm được xây dựng chiếm số lượng lớn là nữ đã dần xóa nhòa biên giới giữa tác giả và nhân vật. Sự cộng hưởng của nhiều nguyên nhân trên dẫn đến sự chiếm lĩnh của khuynh hướng tự thuật trong những sáng tác của các nhà. văn nữ, đem đến cho văn học Việt Nam những sắc thái mới mẻ và đầy ấn tượng.
'Từ những căn nguyên hình thành nên yếu tố tự thuật khi đem soi chiếu. vào tác phẩm của những cây viết nữ, chúng ta có thể nhận thấy mỗi nhà văn, mỗi tác phẩm của họ đã sử dụng yếu tố tự thuật theo những cấp độ khác nhau. Ở cấp độ thứ nhất, hơi hướng tự thuật trong sáng tác của các nhả văn nữ bộc lộ ở phạm vi tự thuật của giới. Họ sử dụng ngòi bút của mình để bản bạc, mổ.
xế đề nl bộc lộ quan điểm, tư tưởng, đặc biệt là những vấn đ quyền con người, thân phận nữ giới; ở đây tự thuật đã được mở rộng ra ngoài biên độ đời tư cá nhân tác giả. Ở cắp độ thứ hai, yếu tố tự thuật có thể nhận biết là sự xuất hiện dàn trải trong một tác phẩm hoặc nhiều tác phẩm của một tác giả, người ta gọi day là hiện tượng "tự ăn mình”. Ở kiểu tự thuật này, người đọc phải nắm bắt khá rõ tiểu sử cuộc đời tác giả, đôi khi cần kết nối nhiều tác phẩm đề tìm ra bức chân dung nhà văn. Qua đó nhận biết được đâu.
là hiện thực, đầu là các y tố hư cấu mà nhà văn đã lồng ghép vào nhằm tạo. sự hấp dẫn, sinh động cho tác phẩm. Trong cắp độ thứ ba, yếu tố tự thuật bao. trùm, xuyên suốt toàn bộ tác phẩm của một tác giả.
Dường như họ đã vẽ lại đời mình bằng những con chữ và những trang văn với những tình tiết, nhân vật, sự kiện. đập khuôn theo những gì cuộc đời thăng trim, sóng gió mà bản. thân nhà văn đã từng nếm trải. Với các biểu hiện khác nhau của khuynh hướng tự thuật, ta có thể nhận.
thấy dù biểu hiện ở cấp độ nào, dù xuất hiện nhiều hay it thi yếu tố tự thuật là một thuộc tính của phương thức sáng tác văn học nữ. Tự thuật xuất hiện vừa vô thức vừa có ý thức ở hầu khắp các tác giả nữ, chiếm số lớn diện tích trang. viết ở những mức độ khác nhau, trong nhiều hình thức biểu hiện đa dạng, phong phú. Trong sáng tác của Đoàn Lê (Tiển định, Mẹ, con và thánh Giường đôi xóm chùa.) nhà văn tập trung thể hiện chân thực cái tôi cảm xúc.
của chính mình, làm nỗi bật cuộc đời của những người phụ nữ với những số phân, cảnh đời éo le, nghiệt ngã. Nếu như bạn đọc quan tâm đến cuộc đời cũng như những tác phẩm của bà, sẽ dễ dàng nhận thấy Đoàn Lê đã vận dụng. rất khéo léo những hệ lụy trong cuộc đời riêng của chính mình để viết lên những trang văn chất chứa nhiều nỗi đau âm i. Trong những trang văn của Dạ Ngân (Gia đình bé mọn, Con chó và vụ ly hôn, Trình nữ muộn, Nhà không có đàn ông, Quang đời ấm áp.) các tác phẩm như kết dính lại với nhau, giới thiệu với người đọc cuộc đời của tác giả.
Dạ Ngân không ngại phô trương, thân thể và sự nghiệp của mình. Bằng ngòi bút sắc sảo đã giúp Dạ Ngân soi rọi những góc khuất tăm tối của con người cũng như xã hội. Tác giả viết như để tự vấn, sám hối về những gì đã xảy ra trong quá khứ, giúp bà như sống lại một lần nữa, sống với một cuộc đời khác. Trong Phổ Tàu, Thuận cũng tái hiện chính mình trong phiên bản mang số phận của những kẻ tha hương, suốt ba mươi năm dịch chuyển từ Hà Nội đến Nga rồi sau đó dừng lại ở nước.
Với Võ Thị Xuân Hà, không đưới một lần nhà văn đặt mình trên trang, giấy. Qua nhân vật mang tên bút danh của chính mình — Kỳ (Trưởng thành), nhà văn muốn người đọc thấy được sự thật về những đắng cay trong. cuộc sống và trong nghiệp văn chương. Tương tự như vậy, Nguyễn Thị Thu Huệ trong Tân Cảng đã tái hiện lại nỗi đau của chính mình khi viết về gia.
đình, về những đổ vỡ, mắt mát. Những trang văn của Phan Thị Vàng Anh lại như một cuộc tạt ngang trong khoảnh khắc ngắn, bắt chợt của tuổi trẻ đầy tỉnh. Đôi chỗ người đọc nhận ra lý lịch của tác giả qua nguồn gốc. gia đình với người cha là một nhà văn miệt mài với con chit (Cha 161), qua những câu chuyện nơi khuôn viên ngôi trường nhà văn dang theo hoc (Nghi kè).
Nhà văn Lý Lan tái hiện hình ảnh cô giáo với những tâm trạng hụt hằng và vỡ mộng từ chuyến xe có thật đi Cần Giờ, một địa danh nhà văn từng công. Thấp thoáng trong nhiều tác phẩm, nhân vật cô giáo vẫn thường tở đi tở lại như bóng đáng của nhà văn trong từng câu chuyện (Chuyện kinh dị, Suối Sim, Hai mươi mốt năm sau, Quá chén, Chim nhạn. Từ một số dẫn chứng trên đây có thể nhận thấy, khuynh hướng tự thuật được. 'bộc lộ một cách khá rõ rệt trong sáng tác của nhiều nhà văn nữ.
Bằng ngòi bút tinh tế và khéo léo, họ đã gián tiếp thể hiện mình một cách rất riêng và hệ thống, sắp xếp vấn đề một cách hoàn chỉnh, tạo hiệu quả nghệ thuật ngoài mong đợi. Nhìn chung, những sáng tác của các tác giả nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay đều phần lớn mang hơi hướng tự thuật. Bằng những chất liệu chính từ con người, cuộc sống được nhào nặn qua đôi bàn tay của trí tưởng, tượng, trang văn của họ luôn tạo nên cho người đọc cảm giác rất thật và rất đời. Vì vậy, tự thuật không chỉ hiện diện trong tác phẩm như một nội dung .