phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dụng luận văn gồm có 3 chương (Churong |: Tiết tuyết Đoàn Lê rong sự đồi mới thể giới nghệ thuật của tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Chương 2: Bức iranh cuộc sống xã hội Liệt Nam trong tiểu thuyết Doin Lé Churong 3: Mét 34 thi php nghé thud trong ti thuyét Bodin Lé CHƯƠNGL “TIỂU THUYET DOAN LE TRONG SY DOI MOI THE GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA TIÊU THUYET VIET NAM DUONG DAL 1. THÊ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT VIET NAM DUONG D: 1. Kh nig “ThE gid nghệ thuật” “Thé gidi nghệ thuật” là khái niệm được đẻ cập đến trong nhiều công.
trình nghiên cứu văn học của nhiều tác gi, trong đó, mỗi tác giá đều có những quan niệm và cách hiểu của riêng mình. Đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu nhắc đến "Thế giới nghệ thuật” như: 7ý luận văn học (Nhiều tác giả, Phương Lựu chủ biên, tái bản 1997, NXB Giáo dục, Hi Ni); 150 Thuật ngữ văn học (Lại Nguyên Ân biên soạn, 1999, NXB ĐHQG Hà Nội), Từ điền thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng, chủ biên, 1999, NXB Văn học, Hà Nội); Cuỗn Con đường đi vào để giới nghệ thật của nhà vấn ( Nguyễn Đăng Mạnh, 2007, NXB Giáo dục - Hà Nội) 6 luận văn này, chúng tôi chọn khái niệm thế giới nghệ thuật trong cuốn Từ điền thuật ngữ văn học của ba tác giả đồng chủ biên nói trên: *Thế giới nghệ thuật nhắn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sắng tạo 1a theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thé giới tâm lý của con người, mặc dù nó phản ánh thể giới ấy. Thể giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan hệ xã hội "ng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng.chỉ x hiện một cách có ước lệ trong sáng tác nghệ thuật (. ) Mỗi thé giới nghệ thuật ứng với một quan niệm về thé giới, một cách cắt nghĩa về thế giới (.
) khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của sắng. tác nghệ thuật, có cội nguồn trong thể giới quan, văn hóa chung, văn hóa nghệ thuật và cá ính sáng tạo của nghệ sĩ” [19, t. 302-303] 'Như vậy, có thể hiểu “Thế giới nghệ thuật” là toàn bộ các phương diện nội dung và hình thức nằm trong chỉnh thể thẩm mĩ. Nó được bắt nguồn từ thể giới quan, đặc điểm văn hóa và cảm hứng thời đại, vừa được xây dựng bằng hệ thống nguyên tắc tr tưởng nghệ thuật vừa bị chỉ phối bởi cá tính sáng tạo của người sing tác.
Thế giới nghệ thuật tuy là sự phân ánh thế giới hiện thực nhưng lại mang tính độc lập tương đổi so với thể giới hiện thực mà nó phản ánh. Nghệ thuật chỉ phản ánh đời sống như là một thuộc tinh chứ không sao chép nguyên xi đời sống hiện thực vào tác phẩm. Thể giới nghệ thuật dù xu phát từ thể giới hiện thực nhưng là sản phẩm tỉnh thẫn, là kết quả của sự sáng. tạo, chỉ có trong tác phẩm nghệ thuật mà không trùng khít với hiện thực.
Hay nói cách khác, thế giới nghệ thuật chính là sự phản ánh hiện thực bằng những, xúc cảm thẩm mỹ, cảm hứng nghệ thuật của người nghệ sĩ, đặc biệt là đối với loại hình nghệ (huật iy ngôn từ làm chỉ dựng nên hình tượng. nghệ thuật Đối tượng nhận thức của sáng tạo nghệ thuật đó không phải là những. điều đã được nhìn thấy một cách thờ ơ mà là những xúc cảm thẩm mỹ, bằng, sự quan sát tình tế cùng sự rung cảm sâu sắc của nhà văn, để từ đó họ có được những tỉnh cảm xuất phát từ nội tâm như vui, buồn, hờn, giận, yêu, ghét, hạnh phúc, khổ đau, cô đơn,. Từ những cung bậc cảm xúc, những cung bậc biểu hiện tình cảm ấy sẽ khơi gợi và cấp cho nhà văn cái nhìn về các hiện tượng xã hội.
Tắt cả được phản ánh trong tác phẩm tạo thành nội dung cảm hứng của tác phẩm. Thể giới nghệ thuật rong tác phẩm văn học bao gồm nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất để hình thành thể giới Ấy vẫn là cảm hứng nghệ thuật. Đó là một tỉnh cảm xã hội được ý thức, nó đem đến cho tác phẩm một không khí cảm xúc nhất định, tác động mạnh mẽ đến người dọc. Cảm hứng nghệ thuật thống nhất ắt cả các cấp độ và yếu tổ nội dung cũng như hình thức của tác phẩm như: cốt truyện, kết cấu, xung đột, nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ.
Trong đó, nhân vật là nơi biểu hiện rõ ni và trọn vẹn nhất cảm hứng nghệ thuật của nhả văn. Trong sing tác nghệ thuật, cảm hứng được biểu hiện ở mọi biến thể, nhưng tắt cả đều là sự ý thức về mặt tư tưởng và sự đánh giá về mặt cảm xúc. Giữa cảm hứng nghệ thuật và thể giới nhân vật trong sáng tác của nhà văn. thường có mỗi quan hệ gắn kết mang tính hô ứng, tương giao: Cảm hứng nào.
thì nhân vật Ấy và ngược lại. Mỗi nhân vật luôn gắn với một cảm húng hoặc một phương diện nào đó của cảm hứng nghệ thuật. Tìm hiểu sự thể hiện con người trong văn học thông qua thể giới nhân vật, trong mối quan hệ phù hợp và hô ứng với cảm hứng nghệ thuật của nhà văn là tỉm hiểu một phương, diện cơ bản trong thế giới nghệ thuật của nhà văn, góp phần quan trong vào việc xác định phong cách nghệ thuật của nhà văn. 2, Hướngtiếp cận hiện thực mới trong tiểu thuyết đương đại «a, Ding tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ 1945 dén 1985 “Tiểu thuyết với những đặc trưng thể loại đã phát triển và chiếm giữ vị trí quan trọng tong đời sống văn học Việt Nam.
Ngay từ khi được du nhập và phát triển ở Việt Nam, tiểu thuyết tở thành phương tiện ưu trội để nhà văn giải quyết những nhu cầu bức thiết của đời sống văn học. Người ta đặt ra yêu cầu cho một thể loại văn xuôi tự sự có dung lượng lớn phản ánh bao quát và đầy đặn những vấn đề quan trọng, nóng bỏng của xã hội, đặc biệt là sự đấu tranh và phân hoá giai cép, ting lap, thé hệ ngày cảng trở nên mạnh mẽ vả sâu. sắc trong xã hội Việt Nam. Từ quan niệm về sứ mệnh văn chương, Vũ Trọng Phụng đã cho rằng “văn chương là một phương tiện tranh đấu của những, người cằm bút muỗn loại khôi xã hôi con người những bất công, nhẹ lên trong lòng người nỗi xót thương đối với kẻ bị chả đạp lên nhân phẩm, kẻ yếu, kế bị day đoạ vào cảnh ngu tối, bị bóc lột, mỗi ngày ra đủ ăn bữa tối dé nhịn sing hom sau” (41,tr.
107-108] 'Với quan niệm đó, chúng ta đã có hàng loạt tiểu thuyết ra đời: SỐ đó, Giống tổ, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng; Bước đường cùng (Nguyễn Công, Hoan); Tất đèn (Ngô Tắt Tô); Sống mỏn của Nam Cao, hoặc của các tác giả Khái Hưng, Nhất Linh, Lê Văn Trương, Hoàng Đạo, Thạch Lam.rong, nhóm Tiểu thuyet thứ Bảy ở thời kỳ 1932 - 1945. Sau 1945, hiện thực đời sống chuyỂn sang một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử: một nhà nước, một thể chế, một hệ tư tưởng, một quan niệm.ra đời, đồi hỏi nhà văn phải thay đổi cách nhìn hiện thực, con người để tạo nên một thế giới nghệ thuật mới. Một nửa đắt nước từ vĩ tuyến. 17 trở ra, giờ đây sống trong chế độ mới ở miễn Bắc.
Nền nghệ thuật mới được xác định theo tỉnh thằn của Đảng Lao động Việt Nam: “Van héa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em nghệ sĩ là những chiến sĩ trên mặt trấn ấy” đã làm nên một đội ngũ nhà văn - chiến sĩ bao gồm những nhà văn lớp trước tỉnh nguyện thay đổi thể giới quan, đi theo cách mạng và lớp thể hệ nhà văn mới trưởng thành trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc va xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với tư cách là "cội nguồn trong thể giới quan” hiện thực mới đòi hỏi các nhà văn - chiến sĩ phải có một "cách cắt ngiĩa vẻ thế giới” mới phù hợp với hiện thực đó. Nhà văn phải có những thay đổi trong việc lựa chọn đề tải, hệ thống nhân vật, quan niệm cuộc dời, không gian, thời gian,.mang một cảm quan khác.
Chẳng hạn, giờ đây không thể mãi mê với cô đơn, sầu não, trốn tránh cuộc đời, bễ tắc trong cái nhìn tương lai v. mà phải thâm nhập sâu vào đời sống nóng bỏng của hiện thực với một tâm thế, tư thế tự hảo, hào. hứng, nhìn về tương lai một cách tươi sáng, lạc quan. Thể giới nghệ thuật trong những tác phẩm của họ tuy có những mảng màu xám tối, ác liệ, tổn thất,.nhưng những là để tôn vinh cái hiện thực sáng sửa của tương.
la chi hắn sẽ tới, con người có thể phải chịu đựng những qian khổ, hi sinh, sai lầm, khuyết điểm. nhưng chắc chin sống trong xã h y, được sự thử thách, giáo dục của xã hội Ấy, cuỗi cũng tất yếu họ phải trở nên những con người tốt, hướng v tương lai với một niềm tin cách mạng chứ không phải là tắc như những anh Pha, chi Dâu, Chi Phéo, thi Mich. Ching ta gặp trong tiểu thuyết thời kỳ này những thế giới nghệ thuật với không gian công cộng rộng mỡ, thời gian dành chủ yếu cho cái chung của “Cách mạng; nhân vật chính diện là những anh hùng làm nên giọng diệu ngợi ca hào sảng: cái ác liệ, gian nan, mắt mát.làm nÊn cho cái hùng vĩ, hoành tráng của hiện thực, con người. Tư tưởng nghệ thuật này đã làm nên dòng văn học sử thì với tắt cả những thành công và hạn chế không tránh khỏi của nó, kéo dài suốt từ 1945 cho đến 1975, sang đến 1985 theo vết trượt của "quán tính sử thí”.
40 năm ấy, chúng ta đã có một đội ngũ nhà văn đông đảo gồm 4 thể hệ với một khối lượng tiêu thuyết đồ sộ: Sống mỗi với thú đổ (Nguyễn Huy Tưởng), Đắt nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Người mợ cằm súng, Ở xã Trung Nghĩa (Nguyễn Thi), Cao điểm cuối cùng, Vùng trời (Hữu Mai), Hòn ‘it (Anh Bite), Dang sông phẳng lang (Tô Nhuận V$), Dầu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Sao Mai (Dũng Hà), Mặt trận trên cao, Vo bo (Nguyen Đình Thị), Trước giờ nổ súng, Mẫn và rối (Phan Tứ), Bảo biển (Chu Van), Cái sân gạch, Ví lúa chiêm (Đào Vũ), Đắt làng (Nguyễn Thị Ngọc Tú), Áo làng (Ngô Ngọc Bội), Nắng (Nguyễn Thế Phương), Đường qua làng Hạ (Nguyễn Khắc Phê), .