CHƯƠNG 1 NGHỆ THUẬT TÔ CHỨC HỆ THONG NHAN VAT “Theo Từ điển thuật ngữ văn học, kết cấu được hiểu là “toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm "[104r. Tổ chức tác phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tương quan bên ngoài giữa các bộ phận chương đoạn mà còn bao hàm sự liên kết bên trong. Theo đó, kết cấu còn bao. gồm: tổ chức hệ thống nhân vật, tổ chức thời gian, không gian nghệ thuật của.
tác phẩm, tổ chức những liên kết cụ thể của các thành phần cốt truyện và trình. bày, bố trí các yếu tổ ngoài cốt truyện v.sao cho toàn bộ tác phẩm thực sự trở thành một chỉnh thể nghệ thuật. Bắt cứ tác phẩm văn học nào cũng có một kết cấu nhất định. Kết cấu là phương tiện cơ bản và tắt yếu của khái quát nghệ thuật, đảm nhiệm các chức năng rất đa dạng bộc lộ tốt chủ đề và tư tưởng tác phẩm, triển khai trình bày hắp dẫn cốt truyện, cấu trúc hợp lý hệ thống tính.
cách: tổ chức điễ nhìn trằn thuật, tạo cho tác phẩm trọn vẹn. Vì vậy, tổ chức hệ thống nhân vật sao cho hài hòa, hợp lý, làm nỗi bật các tuyến nhân vật cũng là một hình thức của kết cấu. Mỗi tác phẩm nghệ thuật hàm chứa một thế giới nghệ thuật do nhà văn. sáng tạo ra và nó mang tính chỉnh thể, Đó là toàn bộ những yếu tố hợp thành, cấu tạo nên tác phẩm nghệ thuật.
Giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ, tạo nên. giá trị thẩm mỹ, tư tưởng và nội dung cho tác phẩm. Đối tượng phản ánh của. thế giới nghệ thuật là hiện thực khách quan.
Qua thể giới nghệ thuật, nhà văn. 'bộc lộ quan niệm về thế giới, con người và cách cắt nghĩa về thế giới đó, con người đó. Tính chỉnh thể bao hàm cả cách thức tổ chức các yếu tố cấu thành. thế giới nghệ thuật, mang đậm tính sáng tao của nhà văn.
Trong thé giới nghệ thuật, thể giới nhân vật được coi là thành tố quan trọng nhất, giữ vị í trùng tâm. “có bao nhiêu nhà văn sẽ có bấy nhiêu thế giới nhân vật riêng biệt” 10 [22,tr. Tạo nên thể giới nhân vật trong tác phẩm là nhân vật và hệ thống. Nhân vật là trung tâm của nhận thức, là nơi tập trung tư tưởng nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn.
Từ cái nhìn của tác giả, nhân vật được khắc họa, miêu tả ở nhiều góc độ và thực hiện những chức năng khác nhau. Vì vậy, đọc tác phẩm, người đọc tiếp xúc trực tiếp với một hệ thống. hình tượng nhân vật và thông qua đó, nắm bắt được những vấn để nhà văn đặt ra, giải quyết Thể giới nhân vật được cấu thành bởi nhiều kiểu loại nhãn vật với những đặc điểm tính cách, số phận khác nhau. Chúng bổ sung, hỗ trợ cho nhau tạo.
thành một hệ thống, thực hiện nhiệm vụ chuyền tải nội dung tư tưởng của tác. Thể giới nhân vật cũng tạo cho tác phẩm sự độc đáo dấu ấn sáng tạo. của mỗi cá nhân. Dù là kiểu nhân vật nào, thì nhân vật khi xuất hiện trong tác phẩm, cũng đều là kết quả sự lựa chọn của tác giả, nhằm đạt đến hiệu quả.
thẩm mỹ cao nhất. Đó chính là đối tượng miêu tả mà nhà văn tìm đến và mục đích của việc tổ chức đối tượng đó. Để biến các nhân vật thành công cụ biểu hiện chủ đẻ, tư tưởng của mình. một cách đắc lực nhất, nhà văn phải dày công xây dựng, sắp xếp, tổ chức.
chúng theo những mối liên hệ nhất định. Hơn nữa, việc tổ chức hệ thống nhân. vật một cách rành mạch, logic xoay quanh chủ đề, tư tưởng sẽ là hạt nhân tạo. ra sự vũng chắc cho cấu trúc tác phẩm, đồng thời cũng đánh giá một cách chân thực tài năng nghệ thuật tổ chức tác phẩm thành một chỉnh thể thống.
nhất, hoàn chỉnh. Nói đến xây dựng hệ thống nhân vật trong Đội gạo lớn chia Li nói đến việc tổ chức các mối quan hệ của nhân vật trong cộng đồng xã hội sao cho các. nhân vật ấy đều bổ sung, soi sáng cho nhau để cùng thể hiện một cách đắc lực nhất chủ đề *Phật giáo” của tác phẩm. Đi sâu vào hệ thống nhân vật trong Đội gạo lên chùa ta thấy nó được xây dựng theo quan hệ giai tằng xã hội nhất " định, nói như Banzäc: “Dù số lượng các nhân vật chính và phụ có là bao nhiêu đi nữa, nhà tiểu thuyết hiện đại cũng phải phân chia chúng thành từng nhóm theo mức độ quan trọng, bắt chúng nằm trong một trật tự nhất định, như.
một chòm sao lấp lánh”40, 1 15] Đội gạo lên chùa xét từ cấu trúc là thuộc tư duy truyền thống, cho nên, để thể hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm một cách đắc lực nhất, hệ thống nhân. vật được chia làm hai tuyến rõ rằng dối lập nhau: tuyến nhân vật chính diện và tuyển nhân vật phản diện. Chính việc đặt các nhân vật trong những xung. đột mang tính đối lập này mà hiện thực cuộc sống được thể hiện vô cùng sinh.
động và kết cầu tác phẩm được tổ chức một cách chặt chẽ logic nhất. Sự phân biệt nhân vật chính diện (tích cực) và phản diện (tiêu cực) gắn liền với những. mâu thuẫn đối kháng trong đời sống xã hội hình thành trên cơ sở đối lập giai cấp và quan điểm tư tưởng. Nhân vật chính diện và phản diện là những phạm.
trù lịch sử, nhân vật chính diện mang lí tưởng, quan điểm tư tưởng, đạo đức tốt đẹp của tác giả và của thời đại. Đó là những người mà tác phẩm khẳng định và đề cao như những tắm gương về phẩm chất cao đẹp của con người một thời. Trái lại, nhân vật phản diện mang những phẩm chất xấu xa, đi ngược với đạo lý, lí tưởng, bị lên án và phủ định. Như vậy, hai loại nhân vật này luôn luôn đối kháng nhau như nước với lửa, thường loại trừ nhau, một mắt, một còn và còn là cơ sở tạo thành các tuyến nhân vật của tác phẩm.
TUYẾN NHÂN VẶT CHÍNH DIỆN "Nhân vật chính là nhãn vật đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện nhiễu, giữ vị trí then chốt của cốt truyện hoặc tuyến cốt truyện. Nhân vật chính phải là người nằm ở trung tâm xung đột của tác phẩm, đại diện cho một phái xung đột tác phẩm, số phận của nó gắn liền với sự xung đột của truyện I21,tr61-62] 12 ' nhân vật chính diện, phẩm chất con người xã hội trong nhân cách của nhân vật chính diện được khắc họa bằng cái nhìn phi thường hóa, lý tưởng. Nhân vật Thiền Sư Vô Úy là nhân vật chính diện trung tâm được xây dựng theo nguyên tắc ấy. “Theo giáo trình Lý luận văn học “nhân vật thường bộc lộ mình nhiều nhất qua hành động, suy nghĩ”[21, tr.
Khi phân tích nhân vật sư Vô Uy cưới góc nhìn con người cá nhân, ta thấy hiện lên một nhân vật với ngoại hình gần gũi, giản dị “dáng người nhỏ thó, đầu nhẫn bóng, da đỏ hồng hảo, lông mày trắng toát. Hàm răng đen nhung nhức.ông cụ có gương mặt rất tươi, trông thấy cụ là thấy nụ cười trên môi. Cụ thường nhai trầu bỏm bẻm suốt ngày” [16, tr. Đó cũng là một con người kỳ lạ: Một vị sư giả Vô Ủy tĩnh tại, thấu hiểu vũ trụ hiền từ như một bô tát mang trong mình nhiều “Phật tinh” ngay từ lúc nhỏ đã được bà nội dạy chữ Hán, chữ Nho và cả chữ Pháp, làu thông kinh luân, biết làm việc đồng áng, làm nghề thuốc cứu giúp mọi người.
Cuộc đời sư Vô Úy là một minh chứng đầy thuyết phục của sự chân tu. Ở nhân vật này ta thấy được triết lý đạo Phật thật khoan hòa, dung dị và gần gũi với đời. Nét đẹp của lối sống Phật giáo thể hiện ở việc hướng con người tới sự cao thượng, thánh thiện và diy lòng khoan dung, bác ái, đó chính là Phật tính trong mỗi con người. Mọi hành động, suy nghĩ, việc làm của sư Vô Úy đều xuất phát từ cái tâm của Phật với “ Tâm từ thương yêu tắt cả chúng sinh.
bi thương xót những người dang gap dau khổ. Tam hi cùng vui với những người đang có điều vui, điều thành công. Người đạt đạo xa lạ với lòng ghen. ghét ganh tị.
Tâm xả không dinh chấp tới những được thua ở đời. Khen cũng không vui, chê cũng chẳng buồn. Dù cay đắng hay ngọt bùi, dù sạch hay nhơ. đều thản nhiên [16, tr74].
Chính nhờ tâm từ bi mà sư thầy Vô Úy đã cảm hóa một tướng cướp khét tiếng trở thành sư bác Khoan Độ nguyện trọn đời bảo vệ Phat pháp. Chính lòng yêu thương, không ngoảnh mặt làm ngơ với 3 những khó khăn của con người mà sư Vô Uy đã không ngần ngại dang tay che chở cho chị em An. Sư Vô Úy, người đã thấu hiểu tâm hồn non nớt của. Nhà sư nhận thấy việc phải chứng kiến cái chết thảm khốc của cha mẹ là một cú sốc vẻ tỉnh thần rất lớn đối với An.
Nỗi đau đó khiến cậu bé như trằm cảm, không nói ra được và cũng không khóc được. Vì thể sư Vô Ủy dạy An phải tự mình vượt qua nỗi đau đó, phải biết tự đứng dậy và đi bằng chính đôi chân của mình, bởi không phải lúc nào cũng có người ở bên dể giúp ta "Trên đường dài ding dae, mot người con của Phật hay một con người cũng vay, đều phải biết tự đi bằng đôi chân của mình. phải biết độc hành con ạ” [16, tr. Lời dạy của sư Vô Ủy không chỉ dành riêng cho An mà còn cho tắt thay mọi người.
Xuất phát từ tâm, vì thế tình yêu thương của sư Vô Ủy cũng như. của đức Phật tỏa chiều khắp nhân gian. Sức mạnh của tình yêu thương không. chỉ với con người mà chính từ tâm bi đó đã giúp sư thầy Vô Úy làm được những việc phi thường.
Với tắm lòng yêu thương vạn vật, sư Vô Úy đã thu nạp được đệ tử Khoan Hòa- một con hỗ. Khoan Hòa bị mắt mẹ từ nhỏ và được sư Vô Ủy đem về nuôi, điều đặc biệt là hằng ngày nghe sư Vô Uy tung kinh niệm Phật, con vật này cũng cảm nhận được tâm từ bỉ của nhà Phật, nó nhận ra những người làm điều ác. Chính nhờ tâm từ, tâm bỉ mà Hiểu và Tân được sư Vô Uy xin cho giảm thời gian chịu phạt. Và mặc dù đã thoát tục nhưng đứng trước nỗi đau quê hương bị giặc dày xéo, sư Vô Úy đã giúp đỡ.
cách mạng: cho Vô Trần đào hằm bí mật trong chùa, là chỗ liên lạc cho cách mạng.