CHƯƠNG I TIỂU THUYẾT Y BAN TRONG DONG CHAY TIỂU THUYẾT NỮ VIỆT NAM DUONG DAL 1. MỘT SỐ ĐẶC DIEM NOI BAT CUA TIỂU THUYẾT NỮ VIỆT NAM DUONG DAI ‘Van hoc mang “guong mat nit”, mang khuynh hướng “thiên nữ” hay “âm hưởng nữ quyền”. là những cách nói phản ảnh thực tiễn đời sống văn học Việt Nam đương đại khi c dy bút nữ liên tục làm nóng văn đàn. Tiêu biểu là các nhà văn với sự dắn thân bền bi như Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Hug, VO Thi Hảo, Dạ Ngân, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp, Thuận, Linda Le, Đoàn Minh Phượng.
Sự châu tuần của các cây bút nữ góp phần tạo nên tiếng nói giàu. sắc điệu,đa nghĩa cho dòng văn chương đậmsắc thái nữ sau 1975 ở Việt Nam. Không khí dân chủ của môi trường sáng tạo giúp nhà văn ý thức sâu. sắc hơn về tư cách nghệ sĩ.
Với quan niệm viết như một cuộc “phiêu lưu” đi tìm “cái tôi” chưa biết của chính mình, các nhà văn nữ ngày cảng mạnh dan đắn thân vào mọi lĩnh vực đời sống đương đại, nỗ lực đôi mới nhằm đáp ứng. yêu cầu của thời đại và đông đáo ban đọc. Hầu hết các iy bút nữ đều bắt sự nghiệp bằng việc tìm đến với “thẻ loại nhỏ” - truyện ngắn, và họ đã thực sự. làm sáng giá “thể loại nhỏ”, tạo nên “một hiện tượng tốt đẹp, đánh dấu một phương diện phát triển của văn học”.
Nhưng rồi, không tự bằng lòng với mình, nhiều người đã rời bỏ địa hạt truyện ngắn để tìm tòi, thể nghiệm ở loại hình tự sự cỡ lớn là tiểu thuyết. Họ đã kiến tạo “miền khí quyển” riêng cho. mình, vẫy gọi khách tri âm. Các tác phẩm như Thiền sứ (Phạm Thị Hoài), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Gia đình bé mon (Da Ngân), Lời cuối cho em, Kẻ mắc chứng điên (Trần Thị Trường), Thị trắn không đèn, Mưa biển, Người đẹp Tây Đô (Trầm Hương), Tường Thành, Trong nước giá lạnh (Võ Thị Xuân Hà), Tam giác muôn đồi, Ngụ cư, Nhân gian (Thùy Dương), Sông (Nguyễn Ngọc Tư), Bóng của cây sdi (Đỗ Bích Thúy), Ïà khi tro bụi, Mưu ở kiếp sau (Đoàn Minh Phượng), Phố Tàu, Pari 11 tháng 8 (Thuận).
đã lôi cuỗn sự quan tâm và kích thích cảm hứng “đối thoại” trong giới phê bình, trong công. chúng; minh chứng cho ý thức đổi mới, sáng tạo, sẵn sàng thể nghiệm, chấp. nhận mạo hiểm của những “mỹ nữ viết văn”. Thực tế cuộc sống thời kỳ Đổi Mới làm thay đổi quan niệm nghệ thuật về hiện thực.
Mạch nguồn của những tình cảm lớn lao nhường chỗ cho tiếng. nói đời thường, cảm hứng sử thi được thay thể bằng cảm hứng đời tư - thé su. 'Đến với văn chương, mỗi nhà văn nữ tự nguyện nhúng đẫm cái khăn đời minh vào "ao đời”, L lên những trang sách câu chữ chở tư tưởng, thái độ nhân sinh, cách cảm nhận, sự nghiền ngẫm thể giới một cách riêng biệt. Thế sự - đời tư, dưới cái nhìn nữ giới, vì thế mang hương sắc lạ Có thể diện sống của người phụ nữ không thật rộng, khó tìm thấy hiện thực *Vĩ mô” trong sáng tác của các nhà văn nữ.
Nhưng điều đó không có nghĩa là thiếu âm thanh thời đại trong sáng tác của họ. Nhận thức sâu sắc “cái hôm nay bề bộn, ngồn ngang bóng tối và ánh sáng” (Nguyễn Khải), ngòi bút của các nhà văn nữ táo bạo thẳng vào hiện thực ở thời hiện tại, đang hình. thành, chưa én định mà mỗ xẻ bi kịch nhân sinh, phơi bày những “mảnh vỡ" số phận, với ý thức hướng tới “chất lượng cuộc sống” mang đậm tính nhân. Bằng trái tìm nhạy cảm của người phụ nữ, các nhà văn đã "lăn sâu” vào cái đời thường của đời sống cá nhân, lắng nghe những gấp khúc trong đường đời và số phận con người, đối thoại với nó trong một trường nhìn mới bằng.
thái độ bình tĩnh, tôn trọng bởi trong lẽ phải có người có ta. Đó là thái độ của Phạm Thị Hoài (7wiên sứ), Võ Thị Xuân Hà (Trong nước giá lạnh), Thùy Dương (Ngự cư, Nhân gian). Cuộc sống cơ chế thị trường nhốn nháo, cạnh tranh gay gắt làm đảo lộn các giá trị xã hội tạo ra những tệ nạn hết sức quỷ. quyết, ranh ma, tàn nhẫn trong các mỗi quan hệ người với người rất đáng lo ngại trong xã hội chúng ta.
Bỏ qua mặc cảm về giới, những cây bút nữ không ngần ngại “xông vào” mặt trái của xã hội đương thi, tạo nên “tiếng vọng của thời thé, có khi chỉ là những va chạm nhỏ, những xao động khế” trong hiện thực chiều sâu của cuộc đời. Đó là điện mạo nóng bỏng của Hà Thành trong Tường Thành (Võ Thị Xuân Hà); là cõi "nhân gian” bán âm bán đương dầy trằm luân, tranh đấu nội tâm trong tiểu thuyết Nhẩn gian (Thùy Dương). Với ‘tam thé cằm bút là để giải tỏa tâm trạng, bày tỏ tình cảm của cá nhân và thể hiện tinh thần phản biện chân lí qua nhiều năm nghiền ngẫm. nhà văn nữ không chỉ nhằm hướng người dọc nhận diện hiện thực, mã còn hơn thế, như lời ngầm cảnh báo về sự bắt ổn xã hội.
Sự thức tỉnh, đề cao vai trò ý thức cá nhân của xã hội hiện đại làm thay. đổi quan niệm nghệ thuật con người. Thân phận con người trở thành mỗi quan tâm hàng đầu của Thién sứ (Phạm Thị Hoài), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), “Xuân Từ Chiều (Y Ban), Sông (Nguyễn Ngọc Tư).Trong từng trang viết, các chỉ "phơi mở” cái tôi cá nhân một cách tự do, xác lập giọng diệu riêng Mỗi người mỗi một nhan sắc, một phong thái văn chương và đều đáng nẻ. Nếu Xuân Hà xao xuyến, trữ tình, chập chờn hư thực thì Y Ban lại áp sát vào 'thực tại đời sông với những biểu đạt can đảm, sắc sảo pha lẫn u-mua.
Nguyễn Ngọc Tư lại có chút phân vân, chênh chao, trằm buồn đôi chỗ lại gồng lên, như thể muốn dứt khỏi cái mình đã là nhưng chưa tới được cái mình muốn là Đó là sự thức tỉnh ý thức cá nhân, sự khẳng định giá trị bản thân của các nhà văn nữ trong lĩnh vực xưa nay hiểm. Là người phụ nữ viết văn, trên trang văn của mình, tước hết họ ưu tiên giãi bày về thân phận phụ nữ. Từ sáng tác của Võ Thị Hảo, Trần Thị Trường, Võ Thị Xuân Hà, đến Y Ban, Lý Lan, Trim Hương. đều lấy người phụ nữ làm hình tượng trung tâm.
Nhân vật nữ qua. cảm thức nữ giới là những người có nhân cách thánh thiện, có niềm đam mê, khao khát cái đẹp, thiết tha yêu và khát sống, nhưng đa số kết cục bất hạnh. Mỗi nhân vật một hoàn cảnh, một thân phận, một cuộc đời lay động đáy tim, Không có “thiên đường”, mà là “hậu thiên đường, các nhà văn nữ để nhân vật của mình lạc vào thể giới xáo động, đổ vỡ nhưng cũng chứa đầy sức sống, khát vọng. Trong thế giới ấy, cái thơ ngây và từng trải, dau đớn và tin tưởng, họ chấp nhận cô đơn, những tâm hồn nữ vẫn mê mãi làm cuộc hành trình.
chưa bao giờ ngừng nghỉ - hành trình đĩ tìm hạnh phúc. Họ mong muốn được khẳng định cái tôi cá nhân, giải phóng cá tính, đồi trả li đúng vị trí của người phụ nữ trong xã hội. Đặc biệt, khi viết về giới mình, ý thức khẳng định phái tính luôn thường trực, các nhà văn nữ bảy tỏ mong muốn “vực dây” những tâm hồn phụ nữ vốn yếu đi Mỗi con người sở hữu một chiều sâu bản thể. Đằng sau thế thực, la thé giới của vô thức, tiềm thức, giấc mơ.
Nhằm nhận diện hình ảnh con người đích thực, các nhà văn nữ có ý thức đi sâu vào cõi tâm linh, vô thức của con người, khai thác “con người ở bên trong con người”. Con người tâm lĩnh xuất hiện khá dày trong các sáng tác của Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo,Y. Ban, Thuận, Đỗ Bích Thúy, Đoàn Minh Phượng. Trong hành trình trở về với cái tôi cá nhân - cái tôi với những âu lo đời thường của văn học Việt Nam sau 1975, trên từng trang viết, các nhà văn đã cùng nhân vật của mình kiếm tìm cái hạnh phúc lung linh mả cũng thật mong manh đễ vỡ ấy.
Chủ để tình yêu có một sức hút kì diệu, bởi từ trong sâu thắm. tính người, nhân loại khi đi tìm ý nghĩa đích thực của đời sống đều gặp nhau. ở điểm hẹn tình yêu. Viết về tình yêu, về hạnh phúc gia đình luôn là thể mạnh.
của nhà văn nữ. 6 ving đất ngọt ngào đó, họ tự do bộc lộ cảm xúc. Có đắng cay đau đớn, lẫn ngọt ngào hạnh phúc; lúc nhẹ nhàng kín đáo khi trần trụi mạnh mẽ, Tiểu thuyết Giản chiếu ám ảnh người đọc bởi tình yêu định mệnh giữa Nhuệ Anh - Từ Lộ; ở Gia dink bé mon là tình yêu đầy bao dung, không, kém phần “bạo liệt của Mỹ Tiệp - Đính suốt 11 năm trong cảnh kẻ Bắc người Nam, trong cái nghèo đói đến rùng mình thời bao cấp và cả những định kiến tàn nhẫn của dư luận xã hội, tinh yêu lý tưởng của nữ phóng viên, nhà báo Cằm Kỳ và Thế Dương trong Tưởng Thanh. Tô đẹp mối tình này Võ Thị Xuân Hà đã gởi đến bạn đọc một thông điệp về tình yêu thương và sức mạnh.
vô biên của nó, "tỉnh yêu thương rồi sẽ lên ngôi. Tình yêu thương sẽ dựng, bức tường thành che chở cho con người khỏi sự tang thương bệnh hoạn nghèo. đối bội bạc hèn đớn” [24, tr. tỉnh yêu còn như là phép thử để phát hiện ra phần tự nhiên, thầm kín nhất trong mỗi con người.
Viết về tình. yêu, dẫu thở than hay giãi bảy, yêu thương và dâng , các nhà văn nữ đều. thể hiện một ý thức tự giác, một nhu cầu riết róng khẳng định phái tính. Tâm hồn người phụ nữ vốn là chốn neo giữ những bi dn của cảm xúc thể xác và tâm hồn.
Trong đó, tình yêu và tính dục là cảm xúc tỉnh cảm bản năng nhất, mãnh liệt nhất của con người. Văn xuôi trước 1986, do sự khống, chế của những truyền thống và tư tưởng đạo đức phong kiến mà các nhà văn. nói chung, các cây bút nữ nói riêng ít đề cập đến vấn đề tình dục. nhà văn phải giấu thật kỹ, tảng lờ hoặc tỏ ra khinh thường tắt cả những gì liên.
quan đến ham muốn thể xác của con người. Sau 1986, với tỉnh thần dân chủ, các nhà văn chú ý mô tả vấn đề tình dục, coi tình dục lành mạnh cũng là biểu hiện của văn hoá. và tính người. Trang viết của Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Vo Thi Xuân Ha, Y Ban, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư.
đều mang bóng, đáng của tính dục.