mở đầu cho cquá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nói chung và hiện đại hóa văn xuôi nồi riêng Tiền đề tiếp theo cho sự ra đời và phát triển của thể tài du ký đầu thế kỉ XX là sự mỡ rộng không gian sinh sống của con người. So với các nước trên thể giới, thể tải du ky ở nước ta xuất hiện khá muộn. Điều nay xuất phat tir đặc trưng văn hóa vì nước ta có một nền văn minh nông nghiệp lúa nước lâu đời, không gian sống nhô hẹp sau lũy tre làng. Tâm lý của người lao động mang ất ôn định, bắt biến, không thích sự xê dịch, ngại thay đổi và cũng một phần do thiếu phương tiện đi lại nên thể du ký không được ưa chuộng, Chính vì thế, suốt trong mười thể kỉ của nền văn học trung đại, dù đã được định hình và có bước phát triển nhưng thể du ký vẫn chưa đạt đến sự hoàn thiện.
Các tác phẩm du ký có thể kể đến là Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác, Táy hành k vấn lí lược của Lý Văn Phức, Hải irình chỉ lược của Phan Huy Chú, Tam Kiéu nguyệt dạ du kj của Ngõ Thì Hoàng. Khi thực dân Pháp chiếm nước ta thì giao thông được xây đựng quy mô đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhu cầu ĐI và XEM của người nghệ sĩ. Họ không chỉ có cơ hội được đến những miễn đất đẹp của đất nước mà còn được bước ra thể giới để ngắm nhì, mở rộng tằm mắt. Đặc biệt là giới tr, họ say sưa với sui vin tinh trải nhiễm để chiêm nghiêm về cuộc sống, về con người để từ đó nhận thức về chính mình.
Cảm hứng “xê dịch” vì thế có sức lan tỏa. 'và bùng cháy mạnh mẽ hơn bao giờ hết khi bao nhiều rào cản, kiễ đó được p tung, ý thức sáng tao nghệ thuật của nhà văn được có thể cho ra đời những trang du ký đặc sắc. Hơn nữa, khả năng bao quát hiện thực trên những chiều kích rộng lớn về không gian và thời gian được xem nhự đặc trưng của th tài du ký sẽ giúp người nghệ sĩ thỏa mãn khát vọng chính phục của minh, Cả Không gian và thời gian trong du ký đều không bi giới hạn Không gian thưởng ngoạn có thể được mở rộng đến tối đa, không kế biên giới. Còn thời gian cũng được kéo dài, có thể là một ngày, một tháng, cũng có khi một năm hay vài năm.
Nhờ sự kéo giãn về không gian và thời gian sẽ giúp cho nhà văn có điều kiện trải nghiệm nhiều hơn và những mảng màu cuộc sống được khám phá sẽ phong phú, đa dạng hơn. “Tiên đề cuỗi cũng là sự xuất hiện và khẳng định ngày cảng mạnh mẽ củaý thúc cá nhân đã làm này sinh những tác phẩm du ký. Nồi đến ý thức cá nhân là nói đến con người xét trong những mồi quan hệ cụ thể, con người với những nhú cầu vật chất, tịnh thần, tnh cảm, (hẳm mỹ riêng. Tuy nhiên, trong thời kì trung đại, con người cá nhân không được hiện diện và lên ting từ đó làm nên tính chất phi ngã của văn chương.
Sang du thé ki XX, những đổi thay của lịch sử khi bước chân của thực dân Pháp đặt lên đất nước ta đã tạo tiền đề trực tiếp cho sự xuất hiện và sau này là bùng nỗ của cái Tôi cá nhân. 20 Sự xuất hiện của nó đã làm thay đổi ï tượng phản ánh và chủ thể phản ánh trong văn học. Lúc này, cái đời thường trong cuộc sống hằng ngày trở thành. vấn để mà các nl ‘van quan tim, phan ánh.
Đồi với chủ thể phản ánh, ý thức. cá nhân bộc lộ rõ nhất ở cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Nó bao gồm tắt cả hệ thống các quan điểm, nhận thức, thói quen, sở thích, gu thẳm mĩ thuộc về nhà văn. Vì thể, củng một đối tượng nhưng với các tác giả khác nhau lại có những cách cảm nhận rất khác nhau, thậm chỉ trong cùng mật tác phẩm của một nhà văn cũng có nhiều màu sắc vì bản thân người nghệ sĩ không muốn.
lặp lại chính mình trong sáng tác. Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn là sự trdi đây của ý thức cá nhân với những biểu hiện rất mới của nó đã làm thay đổi hoàn toàn quan niệm của người nghệ sĩ cũng như công chúng tiếp nhận. làm nảy sinh ở họ nhu cầu được đi, được xem và được trồng thấy những điều mới lạ. Chính vì thế, việc khám phá những vùng đất mới đã thôi thúc những nhà văn sáng tác những trang du kí sinh động, hấp dẫn.
Đó là con đường mở. +a cho họ nhìn ra thế giới để từ đó chiêm nghiệm và nhận thức chính bản thân. Ý thức sâu sắc về giá trị cá nhân trong cuộc đời với nhiều biển động, đổi thay sẽ ip ho từng bước nhận ra những giá trị đích thực và mới mẻ. Có lẽ đó cũng là điều tích cực mà văn hóa, văn học phương Tây góp phần làm "bùng cháy lên ngọn lửa âm ï của cái Tôi vốn đã bị kim nén suốt cả một thời kì đãi trước đó, Đến giai đoạn này, con người cá nhân không chỉ lên tiếng đấu tranh cho quyền được sống, quyền được hưởng hạnh phúc mà hơn trên hết là ý thức muốn khẳng định giá trị bản thân mình và cũng có ý thức tự chịu trách.
nhiệm về chính mình. Cái tôi cá nhân được giái phóng, thoát ra khỏi những lễ giáo phong kiến là tiễn để có ý nghĩa quan trọng cho việc mỡ rộng phạm vỉ phản ánh cũng như cách thức sáng tác của thể đu ký. Như vậy, cuộc tiếp xúc với văn hóa phương Tây cùng với sự mở rộng phạm ví đời sống và đặc biệt là sự trỗi dây mạnh mẽ của ý thức cá nhân đã tạo 21 điều kiện cho sự phát triển của thể tài du ký đầu thể ki XX. Gin lién véi tiến trình phát triển chung của lịch sử văn học dân tộc, chịu sự chỉ phối của bối cảnh lịch sử và đời sống văn hóa xã hội, thể du ký quốc ngữ đầu thể kỉ XX đã có dịp nở rô những tác phẩm thực sự có giá tr.
Nghiên cứu về th tải du ký, nhiễu nhà nghiên cứu khẳng định rằng du ký là một thể loại văn học thuộc loại hình ký vì vậy khi nói đến sự phát triển. của du ký thiết nghỉ Jn diém qua lịch sử của thé kj. Ky là một ễ loại có sự giao thoa giữa bao dl và văn học, truyện ngắn và ghỉ chép, giữa tiễu thuyết và phóng sự nên du ký cũng mang những đặc điểm này. 'Văn chương trung đại đã xuất hiện các thể (hơ, văn rất gằn với du ký như thơ vịnh cảnh, vịnh vật, những tác phẩm kí sự, khảo cứu, nhật kí hành trình.
Thoạt đầu, du ký được viết ở dưới dạng các bài thơ để vinh phong cảnh, thơđ sứ. Các vị quan, các nhà nho mỗi lẫn lên kinh ứng thí hay nhậm chức thường có nhà hứng viết về cảnh sắc dọc đường đi và nơi "mình đến. Các thỉ sĩ mỗi lần đăng cao, cất bước thăm thú non sông cũng cho. ra đời những bai tho vịnh cảnh thiên nhiên, đt trời.
Hay các sứ thần đi công cán cũng có những bản ghỉ chép tỉ mĩ về đắt nước, con người nơi mình đến với những đoạn miêu tả ngoại cảnh độc đáo. Như vậy, dà hình thức còn sơ khai, chưa định hình rõ rằng nhưng thời trung đại cũng đã có nhiều sáng tác mang dáng dấp của thể tài du ký. Tuy nhiên, các sáng tác thời kỳ này chủ yếu được viết bằng văn vẫn như các tác phẩm: Vinh Ván Yên tự phú của Huyền Quang Lý Đạo Tái, Thién Humg trấn phú của Nguyễn Bá Thông, 4m Bang. phong thổ của Trần Thánh Tông.
Sang thể kỉ XVIII — XIX, ra đồi các tác phẩm du ký với dung lượng lớn như Thượng kinh ki sw của Lê Hữu Trác, Tây hành kiến văn sử lược của Lý Văn Phức, Giá Viên biệt lục của Phạm Phú 2 “Thứ. Đáng chú ý vào cuối thể ki XIX da xu lên các du ký viết bằng chữ quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký. Đầu thể ki XX là thời kì nở tô của du với bệ đỡ là hệ thống báo chi khắp 3 kì như: Nam phong tap chi, “Phụ nữ tân văn, Công luận báo, Đông Pháp thời báo, Ích hữu. Cùng với sự ra đời của báo chí, nhà xuất bản, sự phổ biển chữ quốc ngữ đã tạo điều kiện cho du ký trở thành một dòng chảy liên tục và dần chiếm vị tí quan trọng trong đời sông văn học lúc bấy giờ.
Trước hết phải ghỉ nhận công lao đặt nền mồng cho sự phát triển thé du ký của thí sĩ Tân Đà khi sáng lập ra mục "Việt "Nam nhĩ thập kỷ - xã hội ba dio ký” trên An Nam tap chi, Nhung cũng phải thửa nhận Nam Phong tap chí mới là tờ báo di tiên phong trong vi c chấp cánh cho các tác phẩm du ký bay cao và bay xa. Ở đó, những tác phẩm du kỹ đã thục sự gây ấn tượng với bạn đọc bằng lối viết hiện đại mang đậm dấu ấn cá nhân với nhiều tên tuổi lớn như Phạm Quỳnh, Nguyễn Trọng Thuật, "Nguyễn Tiền Lãng, Đông Hồ, Mộng Tuyết Như vậy, sự cộng hướng của tỉnh thần dân chủ đến từ phương Tây củng với sự trưởng thành mau lẹ của hoạt động báo chí, xuất bản và đặc biệt là yếu tổ nội sinh mạnh mẽ bắt nguồn từ văn học trung đại đã làm nên diện mạo. phong phú, rõ nét của thể du ký đầu thé ki XX. Đây cũng là giai đoạn đánh cdầu sự đóng góp tích cực của thể tài du ký vào tiến trình hiện đại hóa của nền văn học dân tộc.
Vai trd của Phạm Quỳnh đối với du ký Hơn ba mươi năm cằm bút, Phạm Quỳnh luôn tranh thủ thời gian để &t, để sáng tạo không biết mệt mỗi và đễ lại nhiều tác phẩm văn chương có gid trị. Chính vì vậy, di sản văn chương mà ông để lại cho hậu thể thật phong. phú với nhiều thể loại. VỀ địch thuật, Phạm Quỳnh được đánh giá là một trong hai dịch giả ni tiếng về cả bút pháp lẫn văn phong cùng với Nguyễn 'Văn Vĩnh.
Những tác phẩm dịch thuật của ông đã giới thiệu văn hóa, văn 3> "mình phương Tây đến độc giả về mọi mặt chính trị, kinh tế, giáo dục giúp mở rộng tằm hiểu biết, cung cấp tỉ thức mới mẻ, tiến bộ. Các tác phẩm khảo luận ccủa ông cũng nhằm mục đích truyền bá rộng rãi học thuyết, tư tưởng phương, ‘Tay để nền văn học nước nhà có cơ hội học tập, phát triển.