Chương I. Nhà văn Kim Lân — cuộc đời và sự nghiệp. Trong chương này, chúng tôi đi vào tìm hiểu bối cảnh văn học xuất hiện Kim Lân, những. dau an cuộc dai trong sing tác Kim Lân và sự nghiệp sing tic cia nhà văn Kim Lân “Chương 2.
Kim Lân — Nha văn “phong tục” của lang quê Kinh Bắc. “Chương này sẽ triển khai hai nội dung lớn, là không gian làng quê và hình tượng người dân quê trong truyện ngắn Kim Lân. Một số phương diện trong nghệ thuật kẻ chuyện của Kim Lân, Khảo sát truyện ngắn của Kim Lân, chúng tôi nhận thấy đặc điểm cốt truyện và kết cấu, cách thức xây dựng nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật là những nét độc đáo trong nghệ thuật kể chuyện của Kim Lân. CHUONG 1 NHÀ VĂN KIM LÂN - CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP.
Kim Lân (1921 - 2007) tên thật là Nguyễn Văn Tài, người thôn Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Xuất hiện trên văn đàn khi mới ngoài hai mươi, sự nghiệp văn chương cũng không thật đồ sô nhưng bằng tài năng và tâm huyết của một người lao động nghệ thuật cần mẫn, Kim Lân đã để lại một đấu son trong văn học sử với một văn phong giản đị nhưng cũng không kém phần đặc sắc. Kim Lân trong sự vận động của văn học Việt Nam đầu thé ki XX “Truyện ngắn đầu tay Đứa con người vợ lẽ của Kim Lân được đăng trên báo Trung Bắc chủ nhật số 120, ra ngày 26 ~ 07 ~ 1942, chinh thức đưa Kim Lân vào làng văn học đang có những bước chuyển mình sâu sắc. Lúc bấy giờ, văn học Việt Nam đang dẫn vươn mình ra khỏi thể giới quy phạm của thời kì trung đại để tiến đến những bước đi hoàn thiện nhất của quá trình hiện đại hóa 1.
Nên vẫn học được hiện đại hóa Hiện đại hóa là quá trình tắt yếu của một nền văn học. Nó xuất phát tir nội tại bản chất của nền văn học, từ tác đông của hoàn cảnh xã hội, từ khát vong của công chúng và từ kết quả của việc giao lưu, tiếp nhận giữa nền văn học của các quốc gia, các dân tộc, Quá trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam trải qua hai bước đi lớn. Nết như bước đi đầu tiên 1900 - 1930 được xem là thời kì giao thời giữa văn học trung đại và hiện đại thì giai đoạn 1930- 1945 là mười lãm năm mà. văn học dân tộc đã thực sự được hiện đại hóa một cách nhanh chồng và mau Ie.
6 thời kì này, chủ thể sáng tao có một cuộc chuyển giao thể hệ trong ý thức sáng tạo từ nhà nho cằm bút đến trí thức Tây học cầm bút. Họ rất trẻ, phần lớn là lửa tuổi mười tắm đôi mươi. Tài năng của họ xuất hiện rắt sớm và trở thành những gương mặt văn hóa trong thể kỉ XX. Đây là thời kì văn học ‘ma ngôn ngữ tự sự nhuẫn nhuyễn khi văn xuôi Tiếng Việt đạt tới trình độ trong sáng, đủ khả năng diễn tả mọi cung bậc tâm hồn của độc giả mới.
Về mặt loại thể vấn học cũng có một bước phát triển và hoàn thiện. Tho la thé loại truyền thống lâu đời nhất, tưởng chừng khó thay đổi nhất thì phong trio “Thơ mới đã mở ra một cuộc Cách mạng trong thí ca, chuyển từ thơ điệu ngâm. sang thơ điệu nói. Ở thể loại van xuôi nghệ thuật, bai thể loại mới xuất hiện là phông sự và ti thuyết.
Cùng với sáng tác thì lĩnh vực nghiền cứu, phế bình: vấn học cũng vươn tới những thành tựu có giã trị học thuật đồng thời cũng có giá trị gốp phần thúc đây quá trình hiện đại hóa phát triển. 'C6 một quy luật mà quá trình hiện đại hóa 1930 — 1945 để lại rất sâu sắc. Đồ là cũng với việc mỡ cửa hội nhập để tiếp nhận vin hoa phương Tây, chúng ta cũng không ngừng gắn bó truyền thống văn hóa, truyền thống dân tộc. Đây là một trong những lý do cất nghĩa tại sao rất nhiều tác phẩm nỗi tiếng của giai đoạn này vừa có sự mới mẻ, hiện đại nhưng vẫn thắm đượm bản sắc dân tộc.
Ở 1930 — 1945, địa bản văn học đã có những dịch chuyển và thay đổi. Lúc khỏi đầu nền văn học viết bằng chữ quốc ngữ xuất hiện ở Nam Bộ đầu tiên nhưng đến 1930~ 1945, những thành tựu rực rờ nhất, những trào lưu văn học nỗi bật nhất và những tác giả, tác phẩm ưu tú nhất thì lại nở rộ ở miễn Bắc, Nhip độ phát triển ở thời kì này diễn ra đặc biệt mau lẹ. Nhịp độ phát triển ở đây bao gồm nhiều nghĩa: nhịp độ phát triển về số lượng, nhịp độ cách tân, nhịp độ trưởng thành, nhịp độ kết tỉnh ở những cây bút tài năng. Vũ Ngọc Phan rong Nhỏ vấn hiện đại đã nhận định: "Ö nước ta, một năm đã có thể kế như ba mươi năm của người.
1167] Sở đi, thời kì văn học 1930 ~ 1945 được xem là 15 năm phục hưng của văn học Việt Nam vì đã có sự hội tụ của nhiều nguyên nhân: tiếp thu được tỉnh hoa văn hóa phương Tây kết tỉnh văn hỏa phương Đông; bắt nguồn từ sức sống và khất vọng của một dân tộc, sức sống và khát vong tâm hỗn, khát vọng vươn với nhân loại. Khát vọng này bắt gặp một con đường mới: son đường “Cách mạng của thời đại và đó chính là nguồn cảm hứng tạo nên những tác phẩm văn học và (hành tựu văn học thời này, 1. Sự xuất hiện nhiễu trào lưu văn học Thời ä văn học 1930 ~ 1945 có sự phát triển song hành của nhiều trào lưu văn học, trong đó nỗi bật nhất là trào lưu văn học lãng mạn và trào lưu văn học hiện thực phê phán. Trào hưu vấn học lãng man 1930 — 1945 ra đời với hai thành tru: phong, trào Thơ mới và tiẫu thuyết Tự Lực Van Đoàn.
“Phong trảo Thơ mới mở ra với bài Tình giả của Phan Khôi. Khái niệm “Thơ mới bao gồm hai ý nghĩa. Xuất phát từ hònh xác của câu thơ, bài thơ thì “Thơ mới là thơ tự do, thơ hợp thể, thơ không tuân theo niêm luật của thơ trung đại. Âm điệu của Thơ mới là âm điệu của ý nghĩa, lời nói tư duy của con người chứ không phụ thuộc vào niêm luật và ảnh hưởng của thơ ca lăng mạn phương Tây.
Nhìn từ khía cạnh ổn tho, Thơ mới là tiếng nối trực tiếp của cái tôi cá nhân cá thể, hoàn toàn thoát ra khỏi những rằng buộc của lễ giáo phong kiến. Nói cách khác, Thơ mới đã mỡ ra một thời đại thí ca trong nền văn học chúng ta, nó có ý nghĩa như một cuộc Cách mạng với nhiều tên tuổi khẳng định vị trí: Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên. Tie Lue Van Đoàn vỗn là một tỗ chức xã hội, c cơ quan ngôn luận và họ cũng có tiêu chí, mục đích, có những nhà văn đứng ra sáng lập: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng, Thạch Lam, Xuân Diệu.Tự lực văn đoàn có tư tưởng chống lễ giáo phong kiến, giải phóng con người, trước hết giải phóng, "hôn nhân, tỉnh yêu (Mứu chừng xuân.Van chương Tự lực văn đoàn thường có luận đề xã hội, thường nêu lên những nhân vật lý tưởng trong. quan niệm của nhà văn.
Từ tiểu thuyết xã hội, Tự lực văn đoàn dẫn đi vào tiểu thuyết (âm lý, nêu lên những áo tưởng, vừa chứa đựng khát vọng nhà văn nhưng cũng thì vị hóa đời sống. Đóng góp lớn nhất của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn là góp phần vio quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, làm cho sương mặt của văn học hiện đại trở nên đa diện, góp phần làm cho ngôn ngữ Tiếng Việt trong sáng hơn. Tuy nhiên, văn chương Tự lực văn đoàn cũng, không trình khỏi nhược điểm đơn điệu, ngôn ngữ hơi sạch sẽ quá nên dễ bị sương gió cuộc đời làm cho phai nhạt "Đôi lập với mrảo lưu văn học lãng mạn là trào lưu văn học hiện thực phê phản. Văn học hiện thực rat coi trong miêu tả chỉ tiết và tài năng nhà văn thể hiện ở quan sát, lựa chọn chỉ tiết.
Bên cạnh đó, các nhà văn học hiện thực cũng rất coi trong xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điền hình. 'Ngôn ngữ của văn học hiện thực khác xa với thứ ngôn ngữ của văn học lãng mạn. Đó là thứ ngôn ngữ đa giọng điệu phù hợp với tính cách nhân Ngôn ngữ của văn học hiện thực gần với đời sống, mang nết mộc mạc, sương gió của cuộc đời. Vì vậy mà khoảng cách giữa người trần thuật với nhân vật được rit ngin, “Chủ nghĩa hiện thực có sự vận động và phát triển.
Ở chặng đầu, chủ nghĩa hiện thực thiên về phía tả chân, đi theo tuyên ngôn của Balzac ar "nguyện làm người thự kí trung thành của thời đại. Đến giai đoạn phát trién, chủ nghĩa hiện thực không dừng lại ở chỗ phản ánh mà còn đi sâu, phát hiện, nghiễn ngẫm và xây dựng nhân vật điển hình, có chiều sâu nội tâm. Nó trở thành thứ chủ nghĩa hiện thực tâm lý, phát hiện được những giằng xé, những thay đỗi phức tạp trong thể giới nội âm con người. Đông góp của chủ nghĩa hiện thực thể hiện ở đội ngũ tác gia với phong.
cách nghệ thuật riêng biệt, không chỉ làm. lên bức tranh hiện thực xã hội mà còn thông qua những nhân vật điển hình làm nổi bật chân dung của những hạng người khác nhau trong xã hội nước ta hic bay giờ. Từ chủ nghĩa lãng mạn đến chủ nghĩa hiện thực, văn xuôi nước ta nói riêng và văn học nước ta ói chung thực sự hội nhập với văn học nhân loại trong quá trình hiện đại hóa. Như vay, Kim Lân đã xuất hiện trên văn đàn trong những ngày tháng, sôi nỗi nhất của văn học Việt Nam thé ki XX.
Gương mặt văn chương Kim Lân được đặt cạnh những tác gia xuất sắc của văn học dân tộc ở mọi thời đại “Thế nhưng, như một nghịch lý, Kim Lân lại xuất hiện trong bối cảnh Ấy một cách khá lặng tiếng. Ông không gây ấn tượng bằng những tác phẩm gây xôn. xao dư luận, ở những đề tài nóng bỏng, gây sốt mà chỉ viẾt những điều mình. tâm đắc, hiểu biết tường tận.
Với giọng văn nhẹ nhàng nhưng có sức lay động. lớn, từng bước Kim Lân đã chiếm được tình cảm của độc giá. Và cảng đọc, người ta cảng nhận ra, những gì giản di. được viết nên từ một con tìm chân thật và giầu yêu thương sẽ có sức sống Vĩnh cửu.