Chương I 'TRUYỆN NGẮN PHAN HÒN NHIÊN TRONG TIEN TRINH VAN DONG CUA VAN HQC TRE DUONG DAL 1. Khái lược văn học trế đương đại 1. Bắi cảnh văn hóa — xã hội Sự vận động và phát triển của bắt kì nên văn học nào cũng không thoát khỏi sự vận động và phát triển của bối cảnh văn hóa - xã hội. Văn học trẻ đương đại Việt Nam cũng nằm trong quy luật đó.
“Tính từ công cuộc Đỗi mới với Đại hội Đảng i thứ VI — 1986, nước ta đã có nhiề thay đổi. Đây được xem là mốc đánh dấu bước chuyển động của đất nước về phía trước, với mục tiêu trở thành người đồng hành cùng thị lới văn mình và nhân loại tiến bô. Trong quá trình hội nhập đó, giao lưu văn hóa cũng có những thay đổi cả về bình thức và tính chất. Hình thái mới của giao lưu văn hóa thời hiện đại là cộng sinh, sự đối thoại giữa các nỀn văn hóa đồng vai tr quan trọng.
Đặc điểm này tạo điều kiện cho văn học nghệ thuật Việt Nam có nhiều cơ hội đến với đông đảo bạn bè thể giới. Nhiều tác gi tác phẩm đã được vinh danh tại các giải thưởng văn học uy như giải thưởng văn học Asean với Ma Văn Kháng (1998), Nguyễn Khải (2000), Nguyễn Đức. Nhiều nhà văn rể cơ hội tham gia c củi đàn giới thiệu sách, bác buổi giao lưu, tuần văn hóa đọc sách tại các nước trên thể giới. Quá trình giao lưu văn hóa đồng thời giúp mỗi nhà văn tiếp nhân những giá trị chung, giá trị nhân loại, và phát huy trí sắng tạo cá nhân đ âm nên bản ắc iêng của văn học nước nhà Giao lưu, hợp tác văn hóa quốc tế còn mang đến cơ hội cho những, người làm nghệ thuật tiếp cận với các tư tưởng như: chủ nghĩa hư vô, chủ nghĩa hiện sinh, phân tâm học, chủ nghĩa cấu trúc.
đã hình thành và phát triển trước đó ở các nước phương Tây, Trên cơ sở này, các nhà lý luận, - phê bình văn học tại Việt Nam thể hiện những quan điểm mới trong vi c nghiên. Sự cởi mở trong tư duy lý luận cũng như việc đưa các lý thu) và phương pháp trước đây không được coi trọng ra sử dụng rộng rải, khiến văn xuôi Việt Nam trong thời đại mới, đã trở nên đa sắc và phong phú hơn bao giờ hết. Bên cạnh những thuận lợi tử bồi cảnh văn hóa mang lạ, trong thời đại mới, sự bảnh trướng của truyền thông công nghệ cao cùng mạng lưới Internet đã phổ cập và đại chúng hỏa văn hóa và rỉ thức với một tốc độ chóng mặt "Đời sống trở nên đa chiều, nghề văn được thăng hoa hơn. chí là kênh giúp nhà văn có thể tương tác, tiếp cận với độc giả nhanh chúng “Cơ chế xuất bản mới cũng giúp nhà văn có điều kiện nhanh chóng đưa tắc phẩm đến với bạn đọc.
Việc in Ấn, ra mắt tác phẩm dễ dàng, việc giao lưu, đối thoại với độc giá diễn m 1g nhiều hình thứ tạo sự cộng hưởng giữa giả, tác phẩm và bạn đọc. Chính điều nảy tạo nên sự đồng sáng tạo giữa tác giả và người đọc, khiến các tác phẩm trở nên đa nghĩa. Đặc biệt với tác phẩm đề cập đến những vấn đề nhạy cảm của xã hội hiện đại, công chúng lại cảng có vai trò to lớn trong việc đánh giá, thẩm định. "Đặc biệt, từ năm 2000 với công cuộc toàn cầu hóa lẫn thứ 3 và các cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra ngày cảng mạnh mẽ đã thúc đây sự phát triển kinh tế, làm chuyển địch nhanh cơ cấu kinh tế và biển đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Kinh tế tr thức phát triển mạnh, do đó con người và ri thức cảng trở thành nhân tổ quyết định sự phát triểncủa mỗi quốc. Điều đó đồi hỏi một thế hệ không những là tiếp tục mà còn là phải vượt lên - do thời đại đời hoi thé, để đón được những chuyển động khó mà hình dung hết được trước kỹ nguyên thông tin và hội nhập quốc tế, “Nếu đời sống là thế thì văn chương, nghệ thuật, học thuật cũng không thể khác. Phải một thế hệ trẻ, hoặc rất trẻ, vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, lại vừa là chủ thể của hoàn cảnh, với bản lĩnh cá nhân và sức mạnh của đội ngũ, mới mong đưa đời sống văn học vào một bước ngoặt, mang tính cách mạng, như đã từng diễn ra ở nữa đầu thế kỹ XX; và đang tiếp tục được đón đợi, với quy mô và tằm vóc chắc chắn là còn lớn hơn, vào nữa đầu thé ky XXT” [23, tr. Và thời kỳ van học đổi mới ở nước ta, nhất là từ năm 2000 trở đi bước đầu đã ghỉ nhận một thể hệ nhà văn trẻ bắt kịp xu thể này.
“Thông qua văn chương người ta hiểu được một góc của thời đại, văn chương phản ánh hiện thực cuộc sống. Khi nễn kinh tế thị trường tồn tại thì văn chương luôn làm tốt thiên chức của mình là phản ánh cuộc sống thông cqua ngôn ngữ, do vậy tư duy kinh tế thị trưởng ít nhiều ảnh hưởng đến những sing tie vin hoe. Khi xã hội bước vào thời đại hậu công nghiệp sự đôi hỏi và loại trừ khốc liệt hơn. Như GS Phong Lê đã nhận định: “Cái thời hôm nay, vừa là sự tiếp nổi vừa là sự chuyển đổi qua nhiều chặng, với những mục tiêu vừa nằm trong tầm đón, vừa không ít những bắt ngờ đặt ra qua nhiễu thử thách” [23, tr98).* ính tế thị trường - cuộc va chạm tản khốc này ảnh hưởng lên tắt cả các ngôi viết" [19] “Trong bối cảnh xã hội trần ngập thông tin, nhà văn không khỏi cảm.
thấy hoang mang trong cuộc sống của mình. Những khám phá, phát minh kì điệu trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật đưa con người đến với chân trời mới của sự phân tích thế giới. Kể từ đây con người có thể nhìn thấy những gì mắt thường không thể nhìn thấy, nhưng cũng từ đây con người buộc phải xem Xét lại cái nỉ cũ về thể giới họ đang tồn ti. Nhãn quan tỉnh trởng và oÏ môi của khoa học hiện đại đã khám phá ra: "hiện thực có thực” ấn đẳng sau, chìm phía dư, tại bên cạnh cái "hiện thực như thực" mà nhà văn quan sát hằng ngày.
Câu hỏi lớn của sự hoài nghỉ xâm nhập vào tư duy và tâm thức của nhà văn, thay đổi cái nhìn cũng như cách nhìn của nhà văn về thế giới hiện thực. Khao khát tìm ra lối đi riêng để khẳng định là một nỗi lo lắng thường trực, Sự tổn tại của những bi ông xã hội vẫn diy rly, sự phân lự xã hội dign ra cảng gay gắt, và nỗi đau nhân quân vẫn hiển hiện bởi cái ác và các tệ nạn xã hội là muôn hình nghìn vẻ, đến từ nhiều phía và len lỏi khắp mọi nơi. ‘Van học hơn bao giờ hết pha thể hiện rõ chức năng hướng thiện của mình, đi sâu, phản ánh những tằng via, những góc khuất của cuộc sống. Bên cạnh đó, sự lên ngôi kinh tế thị trường cũng khiến các cây bút trẻ nặng gắng áo cơm, để tồn tại và sing tie, ho buộc phải có một nghề chính thức để nuôi sống mình.
Không thể sống trọn với nghiệp văn, tác phẩm ra đời đôi khi là sự "đễ đãi” chạy theo thị hiểu, khiến văn chương trở thành “thức ăn nhanh” đối với người đọc. 'Như vậy, bước sang thế ky XXI, xã hội bước vào thời đại kinh thể thị trường, công nghiệp sản xuất chuyển sang công nghiệp tiêu dùng, nền văn "mình máy tính, bùng nỗ truyền thông, thông tin quảng cáo, văn hóa đại chúng, hội nhậ đi cục. ất cả yếu tổ về văn hóa, xã hội Ấy đã tạo ình thành và phát triển của văn xuôi đương đại rong một thời kì thuộc về chính nó, 1. Điện mạo, đặc điểm của văn học trẻ đương đại.
Thể nào là văn trẻ? Đã có nhiều người đi tìm một định nghĩa đấy đủ cho khái niệm này. Một số cho rằng, văn trẻ là sáng tác của những người viết trẻ tuổi thuộc thể hệ 7x, 8x, 9x, số khác thì xem đó la “con đẻ” của các tác giả mới xuất hiện, tác phẩm của họ thực sự “trẻ” trong quan niệm về thế giới, con người và kĩ thuật viết. Trong khi chờ đợi một định nghĩa ổn định về văn trẻ, thiết nghĩ cũng phải khoanh vùng đối tượng để tìm hiểu, chúng tôi xác định văn học trẻ theo hướng Trần Tổ Loan: "văn trẻ là sáng tác của nhà văn, nhà thơ trẻ về tuổi đời lẫn tác phẩm”. 'Nhìn lại lịch sử văn học từ năm 1975 đến nay, đặc biệt là sau Đổi mới, chúng ta có thể khẳng định, thực sự đã có một lớp nhà văn, nhà thơ thuộc thể "hệ mới là nhân tổ chủ chốt cho văn học trẻ đương đại Nếu phải kể ra đặc điểm của thể hệ nhà văn này, tôi đồng tình với nhà văn Nguyễn Đình Tú: Họ là lớp nhà văn được sinh ra từ sau cuộc kháng chỉ chống Mỹ, dấu ấn chiến tranh đọng lại trong ký ức không nhiễu, sinh ra và lớn lên giữa hai cơ chế, tiễn và hậu đổi mới nên giảu ẫn ức với cơ chế cũ và nhiều hoang mang với cơ chế mới.
Đó là một "thể hệ lạc loài”. “Thể hệ chúng tôi có bóng tối của thời bao cấp và cái hỗn độn của thời thị trường. Chúng tôi sinh ra tự lập, tự học, tự bơi giữa đông đời. Chúng tôi có nhiều năm thắng luyện văn bằng những trang viết tay, rồi sau này mới máy tính” [19] Lớp nhà văn trẻ này được học bành cơ bản, có nhiễu cơ hội p cân với khoa học kỹ thuật, với các nền văn hóa khác nhau trên thể giới; một số ra nước ngoài học tập và sinh sống nên họ có tr thite nén cao, vững, toàn diện; cơ chế hậu đổi mới tao cho ho sự giải phóng tr tưởng ở mức độ cao nhất để có th viết những gì mình muốn.
“Chính đặc điểm về hoàn cảnh xã hội của một thể hệ cũng thôi đã tạo nên những điểm chung vẻ tư duy sáng tạo, về đề tài phản ánh.