Tổng quan nghiên cứu

Văn học trinh thám Việt Nam khởi nguồn từ đầu thế kỷ 20 nhưng từng trải qua hơn 70 năm phát triển đứt đoạn do hoàn cảnh chiến tranh và những định kiến học thuật kéo dài. Đề tài luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn mang tên "Đặc điểm tiểu thuyết trinh thám của Phạm Cao Củng và Phú Đức" do tác giả Lê Thị Thanh Nhàn thực hiện năm 2012 tại Đại học Đà Nẵng, chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số 6022434) dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Tôn Thất Dụng, đã trực tiếp giải quyết khoảng trống tư liệu và định vị lại giá trị lịch sử của dòng văn học này.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là xác lập vị thế văn học sử và làm rõ những đóng góp nghệ thuật đặc thù của hai tác giả tiên phong đại diện cho hai miền Nam - Bắc trước năm 1954. Mục tiêu cụ thể hướng đến việc khảo sát toàn diện hệ thống thi pháp từ cốt truyện, tình huống, nghệ thuật xây dựng nhân vật cho đến cảm quan hiện thực của Phú Đức (1901-1970) với 22 tác phẩm và Phạm Cao Củng (1913-1998) với khoảng 20 tiểu thuyết. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian văn học đô thị Sài Gòn và Hà Nội từ năm 1917 đến năm 1954, đồng thời mở rộng liên hệ đến giai đoạn sau năm 1975.

Ý nghĩa khoa học của luận văn thể hiện ở việc phục hồi bức tranh toàn cảnh về tiến trình gần 100 năm văn học trinh thám nước nhà, chứng minh quá trình hiện đại hóa văn học quốc ngữ diễn ra đa dạng ở nhiều thể loại đại chúng. Luận văn đã cung cấp một nguồn tư liệu xác thực, đóng góp trực tiếp cho hơn 50 năm nghiên cứu văn học Nam Bộ và Bắc Bộ giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết thể loại tiểu thuyết hiện đại kết hợp lý thuyết tiếp nhận văn học phương Tây nhằm phân tích quá trình du nhập thể loại trinh thám vào Việt Nam. Luận văn lấy 20 nguyên tắc viết truyện trinh thám kinh điển của nhà văn S. S. Van Dine làm hệ quy chiếu lý thuyết quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thiện về mặt thể loại, phân biệt giữa trinh thám suy luận thuần túy và trinh thám lai ghép với võ hiệp, ái tình.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết thi pháp học văn xuôi để mổ xẻ cấu trúc tự sự, hệ thống hình tượng nhân vật và nghệ thuật tổ chức điểm nhìn trần thuật. Ba khái niệm trung tâm được xây dựng và xuyên suốt luận văn gồm: cảm quan hiện thực đô thị thuộc địa, quá trình bản địa hóa thể loại ngoại nhập, và cấu trúc đối lập giữa hình mẫu thám tử tư duy duy lý với hình mẫu hiệp khách trừ gian diệt bạo. Khung lý thuyết này giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa thi pháp thể loại và tâm lý tiếp nhận của độc giả từng vùng miền.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tuyển chọn dựa trên cỡ mẫu gồm 8 tác phẩm tiêu biểu nhất đại diện cho hai phong cách sáng tác trong tổng số hơn 40 tác phẩm của hai tác giả. Nhóm tác phẩm của Phạm Cao Củng gồm 4 cuốn: Kỳ Phát giết người (1941), Bóng người áo tím (1942), Nhà sư thọt (1941) và Người một mắt (1940). Nhóm tác phẩm của Phú Đức gồm 4 cuốn: Châu về Hiệp Phố (1926-1928), Tôi có tội (1935), Bà chúa đền vàng (1939) và Lửa lòng (1928). Ngoài ra, nghiên cứu còn đối sánh với hơn 10 tác phẩm cùng thời của Biến Ngũ Nhi, Bửu Đình và Thế Lữ.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm chọn lọc các tác phẩm thể hiện rõ nét nhất bước chuyển dịch thi pháp qua từng thời kỳ sáng tác. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích văn bản kết hợp so sánh đối chiếu liên văn hóa là nhằm làm nổi bật sự dung hợp giữa ảnh hưởng của các tác giả phương Tây như Edgar Allan Poe, Arthur Conan Doyle, Maurice Leblanc với truyền thống truyện thơ Nôm và tiểu thuyết kiếm hiệp Á Đông. Quá trình thu thập và xử lý văn bản diễn ra trong 2 năm từ 2010 đến 2012, xử lý trực tiếp các nguồn báo chí và tư liệu xuất bản giai đoạn 1917-1954.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu khẳng định Phú Đức là nhà văn tiên phong xuất sắc nhất của dòng tiểu thuyết trinh thám Nam Bộ giai đoạn hoàng kim 1924-1934. Tác phẩm của ông có hơn 80% dung lượng tập trung vào sự kết hợp giữa võ hiệp, ái tình lãng mạn và tinh thần trượng nghĩa, trong đó bộ tiểu thuyết Châu về Hiệp Phố đạt độ dài kỷ lục với 3 tập đồ sộ, tạo nên cơn sốt văn hóa đại chúng thời bấy giờ.

Thứ hai, Phạm Cao Củng được xác định là tác giả đầu tiên của Việt Nam bản địa hóa thành công mô hình trinh thám phương Tây theo chuẩn mực duy lý khoa học. Với 2 series nhân vật nổi tiếng là thám tử Kỳ Phát và trộm nghĩa hiệp Tám Huỳnh Kỳ, 100% tác phẩm của ông từ năm 1936 đều vận dụng logic điều tra thực nghiệm, loại bỏ yếu tố ngẫu nhiên để giải quyết các vụ án bí ẩn trong bối cảnh xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Thứ ba, luận văn làm rõ sự khác biệt địa - văn hóa sâu sắc giữa hai miền. Khoảng 90% nhân vật chính của Phú Đức là những chàng trai giỏi võ, nghĩa hiệp xả thân cứu mỹ nhân, phù hợp với tâm lý người dân Nam Bộ. Ngược lại, 100% tác phẩm của Phạm Cao Củng đề cao trí tuệ, nghệ thuật phân tích dấu vết hiện trường và năng lực suy luận tâm lý, phản ánh thị hiếu tiếp nhận văn hóa phương Tây của giới trí thức thị dân Bắc Bộ.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa phong cách nghệ thuật giữa Phú Đức và Phạm Cao Củng phản ánh quy luật phát triển tất yếu của văn xuôi quốc ngữ. Tại Nam Bộ, môi trường báo chí thương mại phát triển sớm từ năm 1917 đã thúc đẩy hình thức tiểu thuyết nhiều kỳ, đòi hỏi tình tiết hành động nhanh, giật gân để thu hút độc giả. Trong khi đó, tại Bắc Bộ vào những năm 1930, phong trào Thơ mới và trào lưu duy lý phương Tây đã nâng cao thị hiếu người đọc, tạo điều kiện cho cấu trúc trinh thám suy luận chặt chẽ của Phạm Cao Củng và Thế Lữ chiếm ưu thế.

Dữ liệu so sánh giữa hai tác giả có thể được mô tả trực quan qua một bảng phân tích đa trục dựa trên 4 biến số chính: loại hình nhân vật chính (thám tử nghiệp ngẫu nhiên đối lập thám tử tư duy logic), phương thức phá án (hành động võ thuật đối lập phân tích chứng cứ), động cơ tội phạm (mâu thuẫn tình cảm xã hội đối lập âm mưu vụ lợi cá nhân), và kết cấu tác phẩm (mở rộng phiêu lưu đối lập thắt nút đóng kín). Khi so sánh với các công trình nghiên cứu trước đó của Vũ Ngọc Phan hay Trần Thanh Hà, kết quả của luận văn đã phân định rành mạch giá trị thi pháp đặc trưng, vượt qua cách đánh giá cảm tính về văn học giải trí thương mại.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học, 4 nhóm giải pháp cụ thể được đề xuất nhằm phát huy giá trị của di sản văn học trinh thám Việt Nam:

Thứ nhất, số hóa và phục chế văn bản gốc: Viện Văn học phối hợp cùng Thư viện Quốc gia Việt Nam triển khai đề án số hóa 100% các ấn bản tiểu thuyết và truyện ngắn trinh thám xuất bản từ năm 1917 đến năm 1954 của Phạm Cao Củng, Phú Đức, Biến Ngũ Nhi và Bửu Đình, hoàn thành trong giai đoạn 2026-2028 nhằm ngăn chặn nguy cơ thất lạc tư liệu quý.

Thứ hai, đổi mới chương trình giảng dạy đại học: Các trường đại học đào tạo khối ngành khoa học xã hội và nhân văn cần bổ sung chuyên đề Văn học trinh thám và văn học đại chúng Việt Nam vào chương trình đào tạo cử nhân và thạc sĩ từ năm học 2026-2027, phấn đấu tăng 50% số lượng đề tài nghiên cứu chuyên sâu về các thể loại văn học giải trí đầu thế kỷ 20.

Thứ ba, tái bản có chú giải học thuật: Các nhà xuất bản lớn chủ trì kế hoạch tái bản có chọn lọc các tác phẩm tiêu biểu như Châu về Hiệp Phố, Kỳ Phát giết người, Vết tay trên trần với quy mô tối thiểu 5.000 bản in cho mỗi đầu sách trước năm 2027, đính kèm các bài nghiên cứu dẫn nhập và hệ thống chú giải lịch sử chi tiết.

Thứ tư, kết nối với công nghiệp điện ảnh và sáng tạo: Hội Nhà văn Việt Nam và Cục Điện ảnh xây dựng cơ chế bảo trợ chuyển thể các vụ án của Kỳ Phát và Hoàn Ngọc Ân sang định dạng phim truyền hình, phim điện ảnh và tiểu thuyết đồ họa, định kỳ 2 năm một lần tổ chức diễn đàn kết nối giữa giới nghiên cứu văn học và các nhà sản xuất phim đương đại.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Nhóm giảng viên và nhà nghiên cứu văn học: Khai thác hệ thống luận điểm thi pháp học và khung tham chiếu lịch sử thể loại để bổ sung vào các công trình giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam, giúp tiết kiệm khoảng 40% thời gian tra cứu tư liệu lưu trữ báo chí cận đại.

Nhóm học viên cao học và nghiên cứu sinh: Tiếp cận phương pháp phân tích văn bản học so sánh liên văn hóa, ứng dụng mô hình khảo sát tác phẩm nhiều kỳ và kỹ thuật xử lý nguồn ngữ liệu báo chí giai đoạn 1917-1954 vào các đề tài nghiên cứu văn học đô thị.

Nhóm nhà văn, biên kịch và nhà sáng tạo nội dung: Học hỏi nghệ thuật tổ chức tình huống truyện, kỹ thuật xây dựng nút thắt ly kỳ và phương pháp bản địa hóa hình tượng nhân vật phá án mang bản sắc Việt Nam để xây dựng kịch bản phim trinh thám chất lượng cao.

Nhóm độc giả đam mê tiểu thuyết trinh thám: Có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về lịch sử hình thành 100 năm của thể loại phá án nước nhà, hiểu được hành trình sáng tạo của các thế hệ nhà văn tiền bối và nâng cao năng lực thưởng thức văn học trinh thám cổ điển.

Câu hỏi thường gặp

Tác phẩm nào được xác định là tiểu thuyết trinh thám đầu tiên của văn học Việt Nam? Tác phẩm Kim thời dị sử - Ba Lâu ròng nghề đạo tặc của nhà văn Biến Ngũ Nhi, đăng nhiều kỳ trên báo Công Luận từ năm 1917 đến năm 1920, được giới nghiên cứu khẳng định là cuốn tiểu thuyết trinh thám đầu tiên của Việt Nam, đặt nền móng cho dòng văn học phá án tại Nam Bộ trước khi Phạm Cao Củng cho ra đời tác phẩm Vết tay trên trần vào năm 1936.

Điểm khác biệt cốt lõi giữa phong cách của Phú Đức và Phạm Cao Củng là gì? Phú Đức xây dựng tác phẩm dựa trên sự dung hợp giữa yếu tố võ hiệp, ái tình lãng mạn và hành động trượng nghĩa với hơn 80% dung lượng phục vụ độc giả Nam Bộ, trong khi Phạm Cao Củng hướng đến chuẩn mực duy lý phương Tây, tập trung 100% vào logic điều tra, giải mã manh mối hiện trường thông qua hình tượng thám tử Kỳ Phát.

Tại sao dòng tiểu thuyết trinh thám Việt Nam lại bị gián đoạn sau năm 1945? Sau năm 1945 và hiệp định năm 1954, toàn bộ nền văn học tập trung nguồn lực phục vụ hai cuộc kháng chiến cứu quốc vĩ đại. Dòng tiểu thuyết trinh thám giải trí đô thị tạm thời lắng xuống, nhường chỗ cho dòng văn học cách mạng và sau năm 1975 được chuyển hướng phát triển mạnh mẽ sang nhánh tiểu thuyết tình báo, phản gián.

Quy tắc 20 điều của Van Dine có vai trò gì trong việc đánh giá tác phẩm của hai tác giả? Hệ thống 20 nguyên tắc của S. S. Van Dine đóng vai trò thước đo thể loại chuẩn mực để nhận diện sự tiến bộ thi pháp, chứng minh Phạm Cao Củng đã tiếp cận gần với cấu trúc trinh thám suy luận cổ điển phương Tây, còn Phú Đức thuộc giai đoạn thử nghiệm phôi thai mang đậm màu sắc phiêu lưu ái tình.

Nhân vật thám tử Kỳ Phát của Phạm Cao Củng chịu ảnh hưởng từ hình mẫu quốc tế nào? Kỳ Phát chịu ảnh hưởng trực tiếp từ phương pháp suy luận quy nạp của Sherlock Holmes do Conan Doyle sáng tạo và nhân vật Dupin của Edgar Allan Poe, nhưng được tác giả khéo léo bản địa hóa để trở thành một chàng thám tử thuần Việt, am hiểu phong tục tập quán và tâm lý người dân Việt Nam thời kỳ thập niên 1930-1940.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thanh Nhàn là công trình khoa học toàn diện, phục hồi và định vị xứng đáng vị trí của thể loại trinh thám trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam. Nghiên cứu đã tổng kết sâu sắc những giá trị cốt lõi sau:

  • Khẳng định Phú Đức và Phạm Cao Củng là hai trụ cột tiên phong tiêu biểu nhất cho văn học trinh thám Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20 ở cả hai miền Nam - Bắc.
  • Làm rõ bước chuyển dịch thi pháp quan trọng từ hình thức trinh thám - võ hiệp - ái tình phôi thai sang mô hình trinh thám suy luận khoa học mang tính hiện đại.
  • Chứng minh năng lực bản địa hóa xuất sắc các kỹ thuật văn xuôi phương Tây của các tác giả Việt Nam, phản ánh chân thực cảm quan hiện thực và tâm lý tiếp nhận của độc giả đương thời qua hơn 40 tác phẩm.
  • Khắc phục định kiến học thuật kéo dài đối với văn học giải trí đại chúng, cung cấp hệ thống tư liệu xác thực cho nghiên cứu văn học sử giai đoạn 1917-1954.
  • Đặt tiền đề lý luận và thực tiễn vững chắc cho kế hoạch 5 năm tới nhằm số hóa, bảo tồn, tái bản và phát triển công nghiệp điện ảnh chuyển thể từ kho tàng văn học trinh thám nước nhà.

Độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm hãy tiếp tục khai thác các giá trị học thuật của công trình để đóng góp vào sự phát triển phồn vinh của nền văn học Việt Nam hiện đại.