Chương I PHẠM CAO CỦNG VÀ PHÚ ĐỨC TRONG SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TIỂU THUYET TRINH THÁM VIỆT NAM 1. Vài nét về tiểu sử, sự nghiệp sáng tác của Phạm Cao Cũng và Phú Đức 1. Vài nét về tiễu sử, sự nghiệp sáng tác của Phạm Cao Củng Pham Cao Cing sinh năm 1913 tại Nam Định. Từ nhỏ, cậu bé Phạm Cao “Cũng đã có máu phiêu lưu, thích đọc truyện kiếm hiệp Tau và truyện trình thám phương Tây.
I7 tuổi, chàng thanh niên nhiều hoài bão Phạm Cao Cũng, cũng người bạn thân của mình in truyện ngÃn diu tay “Hang gid” rồi mang lên chợ phiên để bán. Ai ngờ, bao kỳ vọng của tuổi trẻ không thành, sách chông Ê chơ. Nhưng niềm đam mê văn chương chưa bao giờ bị dap tit, Pham “Cao Củng đọc nhiều tác phẩm của Edgar Poe, Conan Doyle, Gaston Leroux, Maurice LeBlanc, Georges Simenon. Những nhân vật thám tử phương Tây.
có ảnh hưởng rất lớn đến sắng tác của nh văn, gợi cảm hứng cho nhà văn ‘sing tao nên nhân vật thám tử Kỳ Phát nỗi tiếng sau này. Phạm Cao Củng vi thuyết tình thám và thơ. Thơ Phạm Cao Củng. thuộc lối trào phúng châm biểm, được đăng trên báo Phong hóa và Ngày nay, kỹ tên là Phạm Thị Cá Mốc.
Thơ Cả Mốc làm theo lối cổ, có giọng châm. biểm nhẹ nhàng. Hầu hết thơ ông đều là những bài nhắn cho Tú Mỡ. Ví dụ như bài “Nhắn anh Tú Mô”' “Chịu chàng Tí Mỡ tỉnh ranh Đầu nhanh chỗ ở, sợ mình lên chơi, Vấn chàng đã biết oai sư t, Nha vo nha lam dữ thì sao? Thêm é ché trước bạn má đào, “Ra chỉ cái mặt anh hào.
(22, tr409 ~ 410] Phạm Cao Củng là một nhà báo có tác phong chuyên nghiệp. Ông văn, dịch văn, làm thơ nhưng thể loại thành công nh: a là tiểu thuyết trinh thám. Tác phẩm đầu tay của ông là được viết vào năm 1936, khi đang còn là chàng sinh viên trường Kỹ nghệ thực hành Hải Phòng. Phạm Cao Củng bắt đầu sự nghiệp của một nhà văn chuyên nghiệp khi làm cho tờ #iái Phỏng tuẩn báo.
Rồi ông viết bài cho Tiểu. thuyết nhật báo, Phong hóa, Ngày nay. Năm 1954, ông di cu vio Sai Gòn cho đến 1975 thì định cư ở bang Florida, Hoa Kỳ. Phạm Cao Cùng có khoảng 20 tiểu thuyết trình thám, chia làm hai series.
Series về nhân vật Kỹ Phát và series về nhân vật Tám Huỳnh Kỳ. Kỳ Phát khám phá các vụ án bằng phép suy luận, nhìn nhận các sự việc theo logic của nó. Chàng Kỳ Phát mang dáng dấp nhân vật Sherlock Holmes của Conan Doyle. Còn Tám Huỳnh Kỳ vốn là thủ lĩnh của băng nhóm trộm cướp nhưng.
hảo hiệp, nghĩa khí nên trong khi khám phá các vụ án không thiểu các pha hành động nguy hiểm. Tám Huỳnh Kỳ gợi chúng ta nhớ tới tên trộm hào hoa ‘Arséne Lupin của Mauriee Leblane. Hai nhân vật với hai nh cáh, hai kiểu điều tra khác nhau nhưng điều giống nhau ở họ là sự thông minh, long gan da, ding cảm, sẵn sing dan thân vào nơi nguy hiểm đề đưa những bí mật trong. bong tdi ra anh sing.
Series về nhân vật Kỳ Phát gồm các tác phẩm: “Kết tay erén rin” (1936), “Người một mắt” (1940), “Kỳ Phát giết người” (1941), “Nhà sự thọt” (1941), “Đám cưới Kỳ Phát” (1943), “Bóng người do tim” (1942) Còn Series về nhân vật Tám Huỳnh Kỳ có: “Máu đó lỏng son” (1937), “Người chó sối” (1950), "Bàn tay sáu ngón” (1950), “Chiếc gối đầm máu” (951) Khi viết nên những tác phẩm, Phạm Cao Củng không có mục đích đề lại kiệt tác cho đời hay để thể hệ mai sau nhớ đến mình. Với nghề chính là văn, làm báo, Phạm Cao Cũng còn làm các nghề phụ như chụp ảnh, quay phim, tổ chức đoàn kịch, hội họa, thôi miên, tướng s. Nhà văn của những tiểu thuyết trinh thám được mến mộ lúc bấy giờ phải làm đủ mọi nghề để nuôi sống bản thân và gia đình, để trả nợ áo cơm. Bởi viết nhiễu, viết để kiếm sống nhà văn không lưu giữ lại tắc phẩm của minh vi ty minh không nhớ hết những tác phẩm đã sáng tác và xuất bản.
Viết văn là nghề kiếm sống nhưng không vì thế mà Phạm Cao Củng không ý thức từng trang viết, Với tiểu thuyết trình thám, học tập nhiều từ các nhà văn phương Tây mà Phạm Cao Cũng vẫn luôn mong muốn bản địa hóa, mong muốn viết sao cho phủ hop trong bối cảnh Việt Nam, gần gi với con người Việt Nam. Trong hỗi ký, nhà văn tâm sự: Si the, viễt truyện tránh thâm ở nước ta rất khỏ, vì đân ta vẫn bình di, ngay trong xã hội í thấy xảy ra những vụ trộm hay án mạng khả dĩ có thể soi là ly kỳ, bí mật. Phân lớn dân ta chưa hễ trông thấy chính mắt một khẩu súng lục bao giờ, hiểu biết rất ít về cơ khí và hóa học, lại rắt hiểm ai có được. chide xe hơi riêng của mình.
Vi thé cho nên những vai chính trong truyện trình thám Việt Nam ching thể mỗi lúc giơ được khẩu súng lục ra hay bắn nhau, không thể có được những nhà hằm có cơ quan bí mặt hay luôn luôn nhảy lên xe hơi theo dồi quân gian như ở trong nhiều truyện trình thắm Âu Tây. Chính vì thế mà luôn luôn tôi chỉ ao ước viết được những truyện trình thám mà việc rắt có th xảy ra được trong xã hội Việt Nam, mà vai chỉnh cân có được những tính cách hoàn toàn Việt Nam. [31] “Tâm sự như thể là nhà văn đã cho chúng ta biết được cái khó khi viết truyện trình thám ở Việt Nam. Phạm Cao Củng ít nhiều đã vượt qua những khó khăn ấy, sáng tác những tác phẩm lấy chất liệu từ cuộc sống Việt, nhân vật, ngôn ngữ gần gũi với con người Việt.
Viết nhiều thể loại nhưng Phạm “Cao Cũng đầu tư tâm huyết cho thể loại trình thám hơn cả. Cho đến nay, người ta nhớ đến ông là nhớ đến tiêu thuyết trình thắm. Mặc dù tiểu thư trình thám Phạm Cao Củng chưa thuộc vào loại tuyệt tác, cũng chưa đạt đến định cao để người ta ngợi ca nhưng đóng góp của nhà văn cho thể loại văn học trình thám còn mới mẻ ở Việt Nam là không thể phủ nhận. Vài nét về tiễu sử, sự nghiệp sáng tác của Phú Đức.
Phú Đức tên thật là Nguyễn Đức Nhuận, sinh năm 1901, mắt năm 1970; qué ở xã Bình Hòa, tỉnh Gia Định, nay là quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chi Minh. Tốt nghiệp trường sư phạm nhưng sau kh đi dạy tại Gia Định được một thời gian thi Phú Đức chuyển sang nghề báo, viết văn. Các tờ báo "hú Đức từng cộng tác là: Trung lập, Công luận, Bude nhà Nam. Sau đô, công chủ trương nhật bảo Đán Thanh, tuần báo Điện báo, "Thời trẻ, Phú Đức sống rất phong lưu: “Người ta nói rằng tuổi đôi mươi chang công tử con nhà đỗ bước chân vào môi trường giáo dục, thong dong và rất phong lưu (dạy lớp 3 ở Mare Ferrando, heong 40 ding/thing, đi làm bằng mô tô, chiắc mồ tô thứ hai ở Sài Gòn).
Nhưng nghề gõ đâu trẻ qué tinh với một tính cách ta hành động, khát phiêu lưu, dù chỉ là phiêu lưu trên phương điện tinh thin. Có những ngày chàng dé mặc học tô và cắm đầu sing tác. Và thể là thẫy giáo Nguyễn .Đức Nhuận trở thành tiểu thuyết gia Phú Đức." [15, tr205] Bước vào nghề văn, thầy giáo Nguyễn Đức Nhuận lấy tên là Phú Đức với ý nghĩa “phú nhuận ốc, đức nhuận thân ". Và quả thật, bằng cây bút của mình, Nguyễn Đức Nhuận đã có một sức sáng tác dồi dào, được độc giả đương thời yêu quý; đồng thời ngòi bút ấy cũng đã giúp nhà văn trang trải cho.
cuộc sống của mình. Phú Đức chủ yếu viết tiểu thuyết trinh thám, võ hiệp phiêu lưu mạo hiểm. Tác phẩm đầu tay của ông là “Cầu chuyện đêm trưởng ” sáng tác năm 1926, in trên tờ 7ưng Lập. Phú Đức được mệnh danh là nhà.
tiễu thuyết trình thám, võ hiệp cự phách. Đoàn Lê Giang trong “Khdo sit, dink gid, bio tan văn học quắc ngữ Nam Bộ 1930 ~ 1945” cũng đảnh giả ring, 6 Nam Bộ, “nhà văn trinh thém thành công nhất, viết truyện mà trở' thành cự phú là Phú Đức ”. Còn Phan Mạnh Hùng trong “Những vẫn để của văn học dai ching: so sánh tiểu thuyết Feuilleton ở Nam bộ trước 1945 va tiểu duy: chương hồi” đã xem Phú Đức như là “iểu nhà văn chuyên nghiệp của phương Tây”. Phú Đức sống bằng nghề báo.
Ông viết tiểu thuyết theo yêu cầu của tòa sogn, viét theo nhụ cầu của độc gid. Téa sogn bán được nhiều báo, nhà văn cũng sẽ được tăng tiền nhuận bút. Đến khi Phú Đức về làm chủ bút cho tờ Cổng Luận thì lương của ông “ngang với lương của đốc phú sứ lúc ấy giờ” (Vũ Bằng). Có thể nói “nếu không có báo chí, chưa hin đã có một Phú Đức, và ngược lại Phú Đức cũng làm sôi động bảo chỉ một thời” (Nguyễn Thị Thanh Xuân).
Xuất thân là một tí thức Tây học, vận dụng những điều mình học được từ nhà trường cùng những kiến thức từ sách vớ, nhà văn thoát ra khỏi kiểu ước lệ, tượng trưng của văn chương truyền thông, để hướng về đại chúng. Ngôn ngữ cũng nhờ đó mà gần gũi hơn với cuộc sống đời thường. Khoảng năm 1934 đến 1935, Phú Đức sáng chối như một hiện tượng và tác phẩm của ông bán chạy như tôm tươi. Tiểu thuyết Phú Đức có một sức cuốn hút mạnh mẽ.
Ong có một tằng lớp công chúng của riêng mình. Tên tuổi Phú Đức lúc bấy giờ gần như một huyễn thoại. Từ năm 1934 đến 1947, bởi nhiều lý do mà các tác phẩm của Phú Đức không còn cuốn hút nữa. Nhưng từ 1948 đến 1954, tiểu thuyết của nhà văn Nam Bộ này được hồi sinh, hơn thế lại càng được phổ biển rộng rãi hơn nhiễu, một lúc đăng trên 5, 6 tờ báo.
Viết không kịp nhu cầu, nhà văn cắt đán lại những tác phẩm của mình. Sau 1954, Phú Đức lại lắng xuống, rồi đến cuối những năm 50, “Chaw vé hiệp phổ” tái xuất hiện trên tờ bio Binh dain. Phú Đức thích chơi tennis và luyện tập võ nghệ. Nhờ những ngây luyện tập võ nghệ cùng người bạn thin li Cao Xuân Mộc mà Phú Đức miều tả các thế võ trong tiêu thuyết của mình rất hấp dẫn, chân thực.
Thú giải trí của ông. là đọc sách báo. Ông đặc biệt thích đọc tiểu thuyết Pháp. Nhà văn chuyên viết truyện kiếm hiệp ma Phú Đức yêu thích là Michel Zévaco.