Luận văn: Nghiên cứu nhu cầu tin người dùng tại Khoa Quốc tế - ĐHQGHN

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tại Khoa Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, cung cấp cái nhìn sâu sắc về thông tin thư viện.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Khoa Học Thư Viện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ
141
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Luận Văn Thạc Sĩ Nhu Cầu Tin Tại Khoa Quốc Tế

Luận văn thạc sĩ khoa học thư viện này tập trung nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin tại Khoa Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ của thư viện đại học, đảm bảo đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng của sinh viên, giảng viên và cán bộ. Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học, kết hợp lý thuyết và thực tiễn, khảo sát và phân tích dữ liệu để đưa ra các giải pháp phù hợp. Mục tiêu chính là đề xuất các giải pháp giúp thư viện Khoa Quốc tế thỏa mãn tốt hơn nhu cầu tin của người dùng, góp phần vào sự phát triển của thông tin họckhoa học thư viện.

1.1. Giới Thiệu Chung Về Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học Thư Viện

Luận văn này là kết quả của quá trình nghiên cứu chuyên sâu về nhu cầu tin trong môi trường học thuật. Tác giả đã tập trung vào việc xác định, phân tích và đánh giá nhu cầu tin của người dùng tại một đơn vị cụ thể là Khoa Quốc tế. Từ đó, đề xuất các giải pháp mang tính ứng dụng cao, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện và khả năng tiếp cận thông tin của người dùng tin. Luận văn này đóng góp vào việc phát triển thư viện họcthông tin học, cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho các nghiên cứu tương tự.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Nhu Cầu Tin Cho Thư Viện Học

Nghiên cứu nhu cầu tin là yếu tố then chốt để xây dựng và phát triển dịch vụ thư viện hiệu quả. Việc hiểu rõ nhu cầu của người dùng giúp thư viện lựa chọn nguồn lực thông tin phù hợp, thiết kế các dịch vụ đáp ứng đúng nhu cầu, và nâng cao hiệu quả sử dụng thông tin. Nghiên cứu này cũng giúp thư viện đánh giá được mức độ hài lòng của người dùng, từ đó cải thiện chất lượng dịch vụ và tăng cường vai trò của thư viện trong cộng đồng học thuật. Thư viện họcthông tin học đều nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiên cứu người dùng.

II. Vấn Đề Nghiên Cứu Thách Thức Đáp Ứng Nhu Cầu Tin Đa Dạng

Trong bối cảnh thông tin ngày càng phong phú và đa dạng, thư viện phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc đáp ứng nhu cầu tin của người dùng. Nhu cầu tin của sinh viên khoa quốc tế, giảng viên và cán bộ rất khác nhau, đòi hỏi thư viện phải có chiến lược phù hợp. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để thư viện có thể xác định chính xác nhu cầu tin, lựa chọn nguồn lực thông tin chất lượng, và cung cấp dịch vụ hiệu quả. Nghiên cứu này tập trung vào việc giải quyết những thách thức này, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận thông tinsử dụng thông tin của người dùng.

2.1. Xác Định Nhu Cầu Tin Đặc Thù Của Sinh Viên Khoa Quốc Tế

Sinh viên Khoa Quốc tếnhu cầu tin đặc thù do chương trình học liên kết quốc tế, sử dụng nhiều tài liệu bằng tiếng nước ngoài. Họ cần thông tin về nhiều lĩnh vực khác nhau, từ kinh tế, quản lý đến khoa học xã hội và nhân văn. Việc xác định chính xác nhu cầu của nhóm người dùng này là rất quan trọng để thư viện có thể cung cấp nguồn lực thông tin phù hợp, đáp ứng yêu cầu học tập và nghiên cứu của họ. Nghiên cứu người dùng là cần thiết để hiểu rõ hơn về hành vi tìm tin của sinh viên.

2.2. Đáp Ứng Nhu Cầu Tin Của Giảng Viên Và Cán Bộ Nghiên Cứu

Giảng viên và cán bộ nghiên cứu có nhu cầu tin chuyên sâu hơn, liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của họ. Họ cần thông tin mới nhất, các bài báo khoa học, công bố khoa học, và các nguồn tintính tin cậy cao. Thư viện cần cung cấp dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu khoa học, giúp họ truyền thông tin, quản lý thông tin, và đánh giá thông tin hiệu quả. Việc đáp ứng nhu cầu tin của nhóm người dùng này góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Khoa Quốc tế.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Khảo Sát Nhu Cầu Tin Thực Tế

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp định tính và định lượng, để khảo sát nhu cầu tin của người dùng tại Khoa Quốc tế. Phương pháp định lượng bao gồm khảo sát bằng phiếu hỏi, thu thập dữ liệu về nhu cầu, hành vi tìm tin, và mức độ hài lòng của người dùng. Phương pháp định tính bao gồm phỏng vấn sâu, thu thập ý kiến và kinh nghiệm của người dùng, cán bộ thư viện, và giảng viên. Dữ liệu thu thập được phân tích và tổng hợp để đưa ra những kết luận chính xác và có giá trị.

3.1. Thiết Kế Phiếu Khảo Sát Nhu Cầu Tin Chi Tiết

Phiếu khảo sát được thiết kế để thu thập thông tin về nhu cầu tin của người dùng, bao gồm lĩnh vực quan tâm, loại tài liệu ưa thích, ngôn ngữ sử dụng, nguồn tin thường xuyên truy cập, và mức độ hài lòng với dịch vụ thư viện. Phiếu khảo sát cũng thu thập thông tin về hành vi tìm tin, bao gồm thời gian dành cho việc tìm kiếm, công cụ sử dụng, và khó khăn gặp phải. Thiết kế phiếu khảo sát được thực hiện dựa trên cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm thực tế, đảm bảo tính chính xác và tin cậy của dữ liệu thu thập được.

3.2. Phỏng Vấn Sâu Để Thu Thập Thông Tin Đa Chiều

Phỏng vấn sâu được thực hiện với người dùng, cán bộ thư viện, và giảng viên để thu thập thông tin chi tiết và đa chiều về nhu cầu tin, dịch vụ thư viện, và các vấn đề liên quan. Phỏng vấn giúp hiểu rõ hơn về hành vi tìm tin, khó khăn gặp phải, và mong muốn của người dùng. Thông tin thu thập được từ phỏng vấn bổ sung và làm sâu sắc hơn dữ liệu thu thập từ khảo sát, giúp đưa ra những kết luận chính xác và có giá trị.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Phân Tích Nhu Cầu Tin Và Tập Quán Tìm Tin

Kết quả nghiên cứu cho thấy người dùng tại Khoa Quốc tếnhu cầu tin đa dạng và phong phú, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau. Sinh viênnhu cầu tin chủ yếu về tài liệu học tập, trong khi giảng viên và cán bộ nghiên cứu có nhu cầu tin về bài báo khoa họcnguồn tin chuyên sâu. Tập quán tìm tin của người dùng cũng rất khác nhau, phụ thuộc vào lứa tuổi, trình độ, và kinh nghiệm. Thư viện cần có chiến lược phù hợp để đáp ứng nhu cầu tin của từng nhóm người dùng.

4.1. Thống Kê Và Phân Loại Nhu Cầu Tin Theo Lĩnh Vực

Dữ liệu thống kê cho thấy nhu cầu tin về kinh tế, quản lý, và khoa học xã hội là phổ biến nhất. Tuy nhiên, cũng có nhu cầu tin về các lĩnh vực khác, như khoa học tự nhiên, kỹ thuật, và nghệ thuật. Việc phân loại nhu cầu theo lĩnh vực giúp thư viện lựa chọn nguồn lực thông tin phù hợp, đảm bảo đáp ứng yêu cầu học tập và nghiên cứu của người dùng. Phân tích nhu cầu cần được thực hiện thường xuyên để cập nhật thông tin và điều chỉnh chiến lược.

4.2. Mô Tả Chi Tiết Tập Quán Tìm Tin Của Người Dùng

Tập quán tìm tin của người dùng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như thời gian, công cụ, và nguồn tin. Một số người dùng thích tìm kiếm thông tin trực tuyến, trong khi những người khác thích sử dụng tài liệu in. Thư viện cần cung cấp nhiều lựa chọn khác nhau, đảm bảo người dùng có thể tiếp cận thông tin một cách thuận tiện và hiệu quả. Hiểu rõ hành vi tìm tin giúp thư viện thiết kế các dịch vụ phù hợp và nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của người dùng.

V. Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Thư Viện Khoa Quốc Tế

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ thư viện, đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tại Khoa Quốc tế. Các giải pháp bao gồm cải thiện nguồn lực thông tin, nâng cao năng lực cán bộ thư viện, tăng cường truyền thông tin, và phát triển dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu khoa học. Mục tiêu là xây dựng thư viện trở thành trung tâm thông tinnghiên cứu hàng đầu, phục vụ tốt nhất cho cộng đồng học thuật.

5.1. Cải Thiện Nguồn Lực Thông Tin Đa Dạng Hóa Nguồn Tin

Để đáp ứng nhu cầu tin đa dạng của người dùng, thư viện cần cải thiện nguồn lực thông tin bằng cách đa dạng hóa các nguồn tin, tăng cường tài liệu bằng tiếng nước ngoài, và bổ sung các bài báo khoa học, công bố khoa học mới nhất. Thư viện cũng cần phát triển thư viện số, cung cấp thông tin trực tuyến và các dịch vụ hỗ trợ truy cập mở, tạo điều kiện cho người dùng tiếp cận thông tin một cách dễ dàng và thuận tiện. Quản lý thông tin hiệu quả là yếu tố then chốt.

5.2. Nâng Cao Năng Lực Cán Bộ Thư Viện Về Thông Tin Học

Cán bộ thư viện đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người dùng tiếp cận thông tin và sử dụng dịch vụ thư viện. Thư viện cần nâng cao năng lực cán bộ bằng cách đào tạo về thông tin học, kỹ năng tìm kiếm thông tin, và dịch vụ khách hàng. Cán bộ thư viện cần có khả năng truyền thông tin, quản lý thông tin, và đánh giá thông tin hiệu quả, giúp người dùng tận dụng tối đa nguồn lực thông tin của thư viện.

5.3. Phát Triển Dịch Vụ Hỗ Trợ Nghiên Cứu Khoa Học Thông Tin Chính Xác

Phát triển mạnh dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu khoa học, cung cấp thông tin chính xáctính tin cậy của thông tin. Điều này bao gồm hỗ trợ tìm kiếm thông tin, quản lý thông tin, đánh giá thông tin, và trích dẫn tài liệu. Cần tăng cường khả năng thông tin của người dùng tin. Thư viện cần xây dựng các dịch vụ hỗ trợ xuất bản bài báo khoa họccông bố khoa học.

VI. Kết Luận Hướng Phát Triển Thư Viện Khoa Quốc Tế Tương Lai

Luận văn này đã cung cấp cái nhìn tổng quan về nhu cầu tin của người dùng tại Khoa Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, và đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ thư viện. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng chiến lược phát triển thư viện phù hợp, đáp ứng nhu cầu tin ngày càng cao của cộng đồng học thuật. Trong tương lai, thư viện cần tiếp tục đổi mới và sáng tạo, tận dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo để cung cấp dịch vụ tốt hơn, trở thành trung tâm thông tinnghiên cứu hàng đầu.

6.1. Tổng Kết Và Đánh Giá Các Giải Pháp Đề Xuất

Các giải pháp đề xuất trong luận văn có tính khả thi và ứng dụng cao, có thể được triển khai trong thực tế để nâng cao chất lượng dịch vụ thư viện. Tuy nhiên, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa thư viện, Khoa Quốc tế, và Đại học Quốc gia Hà Nội để đảm bảo các giải pháp được thực hiện một cách hiệu quả. Đánh giá định kỳ cần được thực hiện để đo lường tác động của các giải pháp và điều chỉnh khi cần thiết.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Trong Lĩnh Vực Thông Tin Học

Nghiên cứu này mở ra nhiều hướng nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực thông tin họckhoa học thư viện. Có thể nghiên cứu về tác động của mạng xã hội thông tin đến hành vi tìm tin của người dùng, hoặc về việc sử dụng dữ liệu lớnphân tích dữ liệu lớn để dự đoán nhu cầu tin. Ngoài ra, có thể nghiên cứu về việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ thư viện, như chatbot hỗ trợ tìm kiếm thông tin hoặc hệ thống gợi ý tài liệu thông minh. Cần chú trọng thông tin chính xáctính tin cậy của thông tin.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I NHUNG VAN ĐÈ CHUNG VE NHU CAU TIN TAI KHOA QUOC TE, DAI HQC QUOC GIA HA NOI 1. Lý luận chung về nhu cầu tin 1. Khái niệm người dùng tìn, như cầu tin Khái niệm người dùng tin Người dùng tin (NDT) là con người cụ thể trong xã hội có nhu cầu sử dụng. thông tin để phục vụ cho các hoạt động khác nhau của mình NDT là một trong bồn yếu tố cầu thành cơ quan thông tin - thư viện (TT - TV).

NDT là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin, là đối tượng phục vụ của các thư viện và cơ quan thông tin hay nói cách khác NDT là một trong những đối tượng chính của hoạt động TT - TV. NDT vừa là người sử dụng dịch vụ thông tin đồng thời họ cũng chính là người sản sinh ra những thông tin mới. NDT giữ vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống TT - TV. NDT như là yếu tố tương tác hai chiều với các đơn vị thông tin.

Vai trò đó thể hiện trên các mặt sau: ~NDT là cơ sở để các thư viện, cơ quan thông tin định hướng các hoạt động của mình; ~NDT tham gia vào hầu hết các công đoạn của dây chuyển thông tin. Họ biết các nguồn thông tin, tim đọc thông tin và có thể thông báo hoặc đánh giá nguồn tin đó. Ý kiến phản hồi của NDT giúp các thư viện và cơ quan thông tin hoàn thiện nguồn tin và phương thức phục vụ của mình và khi các yếu tố này được cải thiện thì NDT lại được phục vụ tốt hơn. Khái niệm như câu tin Như cẩu là một hiện tượng tâm lí nằm trong cấu trúc tâm lí chung của con người; là đòi hỏi khách quan của con người với một đối tượng nhất định, 16 trong những điều kiện nhất định, đảm bảo duy trì cho sự sống và sự phát triển của con người Nhu câu tin (NCT) là một dạng của nhu cầu tỉnh thần, nhu cầu bậc cao của con người.

Theo quan điểm của tâm lí học Mácxít, có thể coi NCT là đòi hỏi khách quan của con người (cá nhân; nhóm; xã hội) đối với việc tiếp cận và sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt động sống của con người. Khi đòi hỏi về thông tin của con người trở nên cấp thiết thì NCT xuất hiện. NCT nảy sinh trong quá trình thực hiện các loại hoạt động khác nhau của con người. Thông tin về đối tượng hoạt động, về môi trường và phương tiện hoạt động là yếu tố quan trọng tạo nên hiệu quả hoạt động của con người.

Bắt kì hoạt động nào muốn đạt kết quả tốt đẹp cũng cần phải có thông tin đầy đủ. càng phức tạp nhu cầu được cung cấp thông tin (về đối tượng hoạt động, về môi trường hoạt động. Như vậy ở mức độ nào có thê coi NCT là loại nhu cầu thứ phát của con người. Với mỗi cá nhân, càng tham gia nhiều loại hoạt động khác nhau, NCT càng.

cao và đa dạng hơn. Ở cấp độ xã hội, các lĩnh vực hoạt động xã hội càng đa dạng, phức tạp, NCT càng lớn, đòi hỏi được đáp ứng ở mức độ cao hơn. Đồng thời, NCT phát triển cao lại tác động trở lại tới sự phát triển các hoạt động sản xuất, góp. phẩn phát triển xã hội.

NCT là yếu tố quan trọng tạo nên động cơ của hoạt động thông tin, vì vậy có thé coi là nguồn gốc tạo ra hoạt động thông tin [19, tr. Đặc điễm nhu cầu tin NCT với tư cách là một loại nhu cầu tỉnh thần của con người, vừa có những đặc điểm của nhu cầu nói chung vừa có những nét riêng đó là những đặc điểm như: tính xã hội của NCT, tính bền vững của NCT, tính cơ động của NCT. Tính xã hội của nhu cầu tin NCT xuất hiện và phát triển dưới ảnh hưởng của các nhân tố xã hội như điều kiện đời sống tỉnh than, vat chất và các quan hệ xã hội 17 Nó là một loại nhu cầu tỉnh thần của con người, nhu cầu tin gắn bó mật thiết với điều kiện văn hóa xã hội, chịu sự chỉ phối trực tiếp của các yếu tố văn hóa. Đời sống văn hóa quy định mức độ phong phú của hệ thống nhu cầu tỉnh thần của con người trong đó có nhu cầu tin.

Nội dung NCT do trình độ văn hóa chung quyết định. Xét đến cùng, sản xuất vật chất là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội, trong đó có đời sống tinh thần. Trình độ sản xuất vật chất, đời sống kinh tế của xã hội chỉ phối phương thức thoả mãn nhu cầu tin, qua đó ảnh hưởng tới sự phát triển nội dung NCT. Cac quan hệ xã hội thường xuyên tác động tới đời sống tinh thần của mỗi nhóm người, mỗi nhóm người cũng như cộng đồng xã hội.

Hệ thống nhu cầu của. con người cũng chịu sự tác động chỉ phối của các quan hệ xã hội, trong đó có tác động đặc biệt của các quan hệ chính trị. Những quan hệ này do đó có ảnh hưởng lớn tới xu hướng hình thành và phát triển NCT. Tính bên vững của nhu câu tin NCT được hình thành sẽ tồn tại trong những điều kiện nhất định và trong.

khoảng thời gian nhất định. Điều đó có nghĩa là độ bền vững của NCT phụ thuộc vào điều kiện bên trong và các yếu tố bên ngoài tác động vào nó trong đó có yếu tố mức độ thoả mãn NCT. Ví dụ như tại thời điểm này một người có NCT liên quan đến “môi trường” thì họ sẽ có yêu cầu tin về vấn đề này, nhưng sau khi đã kết thúc đề tài hay chương trình về “môi trường” thì NCT đó không còn xuất hiện và không còn quan trọng đối với họ nữa. Là một loại nhu cầu tỉnh thần của con người, NCT cũng tồn tại và phát triển theo chu kì nhất định, nhưng độ dài của chu kì nhu cầu tin không được bền vững, phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện bên ngoài, đặc biệt là vào khả năng đáp.

ứng nhu cầu của môi trường bên ngoài. Nếu được thoả mãn đây đủ tới mức tối da, chu kì của nhu cầu tin sẽ ngày càng được rút ngắn. Ngược lại, nếu không. được thoả mãn một cách đây đủ, chu kì nhu cầu tin kéo dài hơn.

18 Tính cơ động của nhu câu tin Sự thay đổi linh hoạt của NCT đồng thời cũng là một biểu hiện tính cơ động đặc biệt của nó. Được thoả mãn đầy đủ NCT sẽ phát triển, sâu rộng hơn về nội dung và đòi hỏi phương thức thoả mãn cao hơn. Nếu không được thoả mãn trong thời gian dài, thường xuyên và liên tục cường độ NCT giảm dần, NCT sẽ thoái hóa dần và có thể bị triệt tiêu. Cũng như các nhu cầu tỉnh thần khác của con người, NCT có tính cơ động cao hơn, dễ biến đổi hơn so với nhu cầu vật chất [19, tr.

Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tim NDT là một thực thể xã hội, bị chỉ phối bởi các điều kiện xã hội nhất định. Các yếu tố khách quan và chủ quan có ảnh hưởng rất lớn đến NCT của NDT. Yếu tố khách quan là những yếu tố bên ngoài tác động đến NCT của NDT, bao gồm môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, đặc thù hoạt động nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính. Yếu tố chủ quan là trình độ văn hóa, trình độ học vấn và nhân cách.

Yếu tố môi trường. NCT nằm trong hệ thống nhu cầu chung rất đa dạng và phong phú của mỗi con người nói riêng và xã hội nói chung, do đó nó chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của các điều kiện môi trường sống của con người, bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện sống của con người. Tâm lí học Mác xít khăng định yếu tố địa lí, tự nhiên không phải là quyết định trong việc hình thành và phát triển tâm lí nhưng có để lại những dấu ấn nhất định. Những vùng đất khác nhau thường để lại những dấu ấn khác nhau trong tính cách và xu hướng hoạt động của con người sinh sống tại đó.Môi trường xã hội có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển NCT của NDT.

Đời sống văn hóa tỉnh thần phong phú là tiền đề cho NCT phát triển. Nền văn hóa phát triển sẽ sản sinh ra thông tin đa dạng, sẽ được lưu giữ và chuyền tải 19 bằng nhiều phương tiện khác nhau để có thể bảo quản và lưu truyền lại cho các thế hệ sau. NCT được thoả mãn sẽ bền vững và sâu sắc hơn. Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu thông tin càng cao, con người càng đòi hỏi được thoả mãn NCT không chỉ về tài liệu mà còn từ các thông tin về dữ kiện và số liệu tổng.

Các nguồn thông tin được khai thác tốt sẽ là các nhân tố quyết định cho sự phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế. Những lĩnh vực quan tâm của NDT rất khác nhau, thêm vào đó là sự cạnh tranh và những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường khiến NDT cần năng động hơn, NCT của họ phong phú hơn, sâu sắc hơn, và đòi hỏi phải thoả mãn kịp thời hơn. NCT cũng có những đặc điểm thời đại tính định hướng vĩ mô được xác định trên cơ sở định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước, có tính chính trị xã hội cao, có tính tông hợp đa ngành và liên ngành, xu hướng toàn cầu hóa đòi hỏi chất lượng đáp ứng NCT ở trình độ quốc tế, xu hướng quốc tế hóa nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội làm cho không gian dýờng nhý thu hẹp lại, thời gian tìm kiếm dường như rút ngắn đi, các nước dường như xích gần về địa lí, tính tuỳ thuộc và chế ước lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng thêm, điều kiện thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước ngày càng nhiều. Trong thời cơ đó, những NDT không chỉ có NCT về chuyên ngành của mình mà còn vươn tay ra các lĩnh vực khác như khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, và những.

ngành khác liên quan. Cho nên, thông tin đã là chìa khóa cho mọi hoạt động sáng tạo của con người, sự thành công của một con người, của cá nhân nào đó trong xã hội phụ thuộc vào khả năng với tới, khai thác, sử dụng thông tin của họ. Đồng thị u kiện kinh tế xã hội càng phát triển thì càng tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ thông tin (SP&DV TT) có giá trị cao, góp phần thoả mãn NCT đa dạng và phong phú trong xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ