Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Tổng quan về nông nghiệp đô thị và nông nghiệp sinh thái 1. Khái niệm về nông nghiệp đô thị và nông nghiệp sinh thái Theo UNDP, nông nghiệp đô thị được là quá trình sản xuất hàng hóa cây trồng, vật nuôi trong các thành phó và thị tran. Theo Tom Philpott (2012), nông nghiệp đô thị là hoạt động trồng cây và chăn nuôi trong xung quanh khu vực đô thị.
Thông thường, nông nghiệp đô thị sử dụng phương pháp sản xuất chuyên sâu mà tái chế chất dinh dưỡng, cải tạo đất, và khuyến khích tăng trưởng thực vật và động vật mà không có việc sử dụng các hóa chất độc hại. Sản phẩm được chế biến, phân phối, tiêu thụ trong khu vực đô thị như nhau, thường là trong cùng một khu phố hay đô thị [34]. Nông nghiệp sinh thái là quá trình sản xuất các sản phẩm nông nghiệp, từ nguyên liệu, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, thủy văn, bảo đảm sự cân bằng sinh thái, tạo hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh tế, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng môi trường. Nếu quá trình đó được diễn ra tập trung ở đô thị thì được gọi là nông nghiệp sinh thái đô thị [33].
Theo Dương Quảng Châu (201 1), nông nghiệp sinh thái được hiểu [3]: - Bảo tồn đất, nguồn nước, đảm bảo đa dạng sinh học và không làm thoái hoá môi trường; giữ gìn được cảnh quan tự nhiên; -_ Kế thừa, lồng ghép hệ thống canh tác truyền thống, thức bản địa với giải pháp phù hợp từ ngoài; -_ Kế thừa và phát triển chế - cấu trúc truyền thống, duy trì sự ôn định, công bằng và việc làm cho cộng đồng; -_ Có tiềm lực và hiệu quả kinh tế nhưng không làm mất đi sức sản xuất của tài nguyên (đấu): -_ Đáp ứng được nhu cầu hiện tại, nhưng không gây tổn hại tới nhu cầu của tương lai; -_ Năng lượng đầu vào (chi phí đầu vào) thấp hơn năng lượng đầu ra (chỉ phí đầu ra) khi đi qua hệ thống canh tác. -_ Có qui hoạch và giải pháp sử dụng đất đảm bảo nuôi dưỡng đất, nguồn nước, đảm bảo đa dạng sinh học và không làm thoái hoá môi trường; ữ gìn được cảnh quan tự nhiên; -_ Hệ thống qui hoạch, thiết kế giảm được sức lao động, thời gian của con người, huy động tối đa nguồn tài nguyên tại chỗ, đồng thời giảm chỉ phí đầu vào phụ thuộc từ bên ngoài: -_ Cơ cầu cây trồng, vật nuôi phù hợp, đa dạng và bền vững, luôn có sự tương tác và hỗ trợ lẫn nhau, đa dạng hóa sản phẩm và thu nhậi - San phẩm đảm bảo chất lượng, an toàn, không ảnh hưởng tới đất, cây cö, động vật và sức khỏe con người. Nông nghiệp nội đô dùng đề chỉ những phân diện tích nhỏ ngay trong đô thị như khu đất trống, sân chơi ở nơi công cộng hay ở ban công, sân thượng của các hộ gia đình được dùng để nuôi trồng các loại sản phẩm nông nghiệp cho mục đích tự cung, tự cấp hay tiêu thụ trong phạm vi lân cận nhỏ hẹp; hoặc những vùng trong đô thị được quy hoạch cụ thể để sản xuất nông nghiệp với mục đích thương mại hoặc bán thương mại sản phẩm nông nghiệp. Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ đề cập đến các hoạt động sản xuất nông.
nghiệp diễn ra trong khu vực nội đô thành phố Đà Nẵng. Tình hình phát triển của nông nghiệp đô thị trên TG và VN 1. Từ cuối thế kỷ XX, nông nghiệp đô thị đã trở thành xu thế trong quá trình phát triển đô thị ở các quốc gia. Theo báo cáo hằng năm của Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO), năm 2008, gần 1⁄3 lượng rau, quả, thịt, trứng cung ứng cho đô thị trên thế giới là từ nông nghiệp đô thị, có khoảng 25 - 75% số gia đình ở thành phố phát triển theo mô hình nông nghiệp đô thị [26].
Rất nhiều thành phố trên thế giới phát triển mạnh về nông nghiệp đô thị. Ở Matxcơva (Nga) 65% gia đình có mô hình VAC đô thị, ở Dactxalam là 68%, Maputo 37%. Tại Béclin (Đức), có hơn 80000 mảnh vườn trồng rau ở đô thị; hàng vạn cư đân ở New York (Hoa Kỳ) có vườn trồng rau trên sân thượng. Tại nhiều thành phó lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu.
nông nghiệp đô thị, ven đô cung cấp tới 85% nhu cầu về rau xanh, 50% về thịt trứng của người dân. Theo Tổ chức Làm vườn quốc gia Hoa Kỳ, năm 2007, người dân Hoa Kỳ chỉ khoảng 1.4 tỷ USD cho việc trồng cây rau, quả tại nha, ting 25% so với năm 2006. Tai Cu Ba, nông nghiệp đô thị phát triển rất mạnh mẽ, cung ứng thực phẩm tươi sống tại chỗ cho cư dân thủ đô Lahabana lên đến 90%. Năm 2008, có hơn 20000 thị dân Cu Ba làm việc trong ngành nông nghiệp đô thị sử dụng.
140 km” đất đô thị. Chương trình nông nghiệp đô thị của Cuba là một thành công ấn tượng. Các nông trại, trong đó nhiều nông trại nhỏ hiện là nguồn cung cấp phần lớn lượng rau cho Cuba. Các nông trại này cũng cung cấp khoảng 300.000 việc làm trên toàn Cuba với lương khá cao và làm thay đổi thói quen ăn uống ở một quốc gia vốn quen với chế độ ăn có gạo và đậu cùng các sản phẩm đóng hộp từ Đông Âu.
Theo tổ chức FAO, ngày nay, người Cuba nạp vào cơ thể khoảng 3.547 calo/ngày - hơn cả lượng calo mà chính phủ Mỹ khuyến cáo công dân Mỹ. Cuba là quốc gia có gần 80% dân số sống ở đô thị. Điều này chứng tỏ các thành phó có thể tự sản xuất lương thực mà vẫn đảm bảo các lợi ích xã hội và môi trường [26], [27]. Tại Cai Rô (Ai Cập) đầu thập kỷ 1990, một nhóm giáo sư nông nghiệp “Trường Dai hoc Ain Shams phát triển phương pháp trồng rau trên sân thượng tại khu vực đô thị đông dân, mới đầu với quy mô nhỏ nhưng được mở rộng nhanh sau khi có hậu thuẫn chính thức của FAO [26].
Tai Mumbai (An Độ) là một trong các thành phố có mật độ dân cao nhất thế giới, 48.215 người/kmẺ. Trong bối cảnh thiếu đất, hiếm nước, đông người nghèo, Tiến sĩ Doshi đưa ra phương pháp làm vườn hữu cơ quy mô nhỏ trên ban công, thậm chí treo trên tường, trên cơ sở dùng bã mía trộn đắt đựng trong túi nhựa hay trong các loại hộp, ống, lốp xe, để hộ dân có rau ăn tại gia và tăng thu nhập. Theo cách thức của ông, hộ gia đình có thể tự túc được Skg rau quả mỗi ngày trong 300 ngày của năm. Ở Trung Quốc, nông nghiệp đô thị đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng thích nghỉ của các thành phó, giải quyết rất tốt các vấn đề do đô thị hóa quá nhanh gây ra cho các đô thị.
Điều này được chứng minh qua thực tế ở thủ đô Bắc Kinh và thành phố Thượng Hải. Nông nghiệp ven đô đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn lương thực sạch cho những người dân ở thủ đô Bắc Kinh. Trong năm 2010, tỷ lệ rau cung cấp cho thành phố Bắc Kinh là 55% và Thượng Hải là 50%. Do khoảng cách vận chuyển đến nơi tiêu thụ ngắn nên làm giảm chỉ phí sản xuất lương thực, đồng thời góp phần làm giảm sự phát thải CO;.
Khi có thảm họa, việc tự cung cấp lương. thực sạch rất quan trọng. Những không gian mở ở đô thị như đất nông nghiệp có thể được sử dụng làm nơi cấp cứu như điểm định cư tạm thời. Năm 2003, dịch SARS ở Bắc Kinh, các bệnh viện được đặt tạm thời tại những vùng ven đô, nơi mà các bệnh nhân được cung cấp thực phẩm sạch và an toàn [26], (27).
Năm 2008, sau thảm họa động đất ở Tứ Xuyên, hầu hết các lều tam được dựng lên trong phạm vi rộng ở những khu đắt nông nghiệp ven đô. Các sản phẩm từ nắm được sản xuất ở quận Fangshan, Bắc Kinh chiếm 56% tong sản lượng nắm của thành phố. Quá trình sản xuất gồm tái chế chất thải nông nghiệp và đem lại lợi nhuận cho những người nông dân. Năm 2007, ở làng Miaoergang, lợi nhuận thu được từ sản xuất nắm trong một năm là 10,44 triệu nhân dân tệ và thu nhập trên đầu người ở quận đạt 10595 nhân dân tệ, tương đương 1552 USD, trong khi thu nhập trung bình hàng năm theo đầu người ở khu vực ngoại ô Bắc Kinh là 9559 nhân dân tệ, tương đương 1400 USD.6 triệu người dân di cư ở Bắc Kinh.
Trong số những người dân này, hơn 600000 (17%) người được tham gia vào các hoạt động liên quan đến nông nghiệp đô thị. việc này đã thu hút nhiều những dân di cư, họ là những nông dân có kinh nghiệm và bằng việc sử dụng các kỹ thuật tiên tiến như nhà kính, họ có thể kiếm nhiều tiền hơn, góp phần nâng cao thu nhập cho gia đình của họ ở nông. Ở ran Manzu thuộc quận Huairou, phụ nữ thường trồng dâu tây, rau, nắm và các hoạt động du lịch nông nghiệp, tắt cả được làm ở gần nhà, vì vậy họ có thể kết hợp làm những công việc khác, phụ nữ ở Manzu mỗi năm kiếm được 7000 nhân dân tệ, tương đương với 1025 USD [26], [27], [30]. Có thể thấy rằng, thời điểm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI nông nghiệp đô thị đã trở thành một thực tế, một xu thế mới nỗi bật trong quá trình phát triển đô thị trên thế giới.
Tuy phạm vi hoạt động của nông nghiệp đô thị chưa rộng, mức độ phát triển chưa cao, chưa toàn diện nhưng hiệu quả kinh tế - xã hội của nông nghiệp đô thị đã thể hiện rõ, khả năng thực hiện của nông nghiệp đô thị cũng đã được chứng minh ở các thành phố thuộc nhiều nước phát triển và đang phát triển. Giá cả lương thực ngày càng tăng, vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng được chú trọng thì việc phát triển nông nghiệp đô thị là chìa khóa mở ra con đường phát triển bền vững thực chất cho các đô thị sinh thái trong tương lai. Từ các thực tế rất thiết thực đó có thể khăng định phát triển nông nghiệp đô thị có vai trò rất quan trọng trong việc tham gia giải quyết các vấn đề khó khăn của các đô thị trong quá trình đô thị hóa. Đây là một hướng đi quan trọng cho các đô thị tại Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên nước ta hiện nay và trong tương lai.
Ở Việt Nam [2] Cùng với đà phát triển đô thị hóa, khái niệm “Nông nghiệp đô thị" ở Việt Nam đã và đang hình thành, thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách.