Chương 1: Nêu một số cơ sở lý thuyết cần thiết về nghiên cứu địa danh, tổng quan về lịch sử nghiên cứu địa danh trong và ngoài nước, liên quan đến hướng tiếp cận khảo sát địa danh trên địa bàn cụ thể là quận Ba Đình - Hà Nội. Chương 2: Trình bày khái quát về địa bàn được khảo sát - địa danh quận Ba Đình - Hà Nội. Chương này trình bày mảnh đất và con người của địa danh được khảo sát. Chương 3: Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo địa danh quận Ba Đình - Hà Nội: các mô hình cấu tạo, các thành tố cấu tạo nên địa danh, trong đó có các kiểu cấu tạo, các phương thức cấu tạo địa danh (cách đặt tên) của từng đối tượng.
Chương 4: Địa danh Ba Đình nhìn từ góc độ ngôn ngữ - văn hoá: Chương này là sự khẳng định mối quan hệ giao thoa giữa địa danh và ngôn ngữ - văn hoá - lịch sử vùng miền; đồng thời chỉ rõ đặc điểm ý nghĩa và các đặc trưng ngôn ngữ văn hoá của địa danh Ba Đình - Hà Nội. Phụ lục: Thu thập một số bản đồ, ảnh chụp và các biểu, bảng về địa danh, địa bàn xưa và nay của quận Ba Đình - Hà Nội. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT CẦN THIẾT ĐỂ NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH 1. KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH 1.
Lịch sử nghiên cứu địa danh trên thế giới Trên thế giới, việc nghiên cứu địa danh ra đời từ rất sớm, ở cả phương Đông lẫn phương Tây. Ở phương Đông, giai đoạn khởi nguồn của nó được diễn ra từ đầu Công nguyên. Địa danh được sưu tập trong các sách này chủ yếu là các sách lịch sử, địa chí có ghi chép, sưu tập, tổng hợp và phần nào giải thích về cách đọc, về ngữ nghĩa của địa danh. Đại diện tiêu biểu là Ban Cố thời Đông Hán (32 - 92 sau Công nguyên) đã ghi chép được hơn 4000 địa danh trong Hán thư; sách Thuỷ Kinh Chú của Lệ Đạo Nguyên thời Bắc Ngụy (380 - 535) đã để cập đến trên 20.000 vạn địa danh, số được giải thích là khoảng 2300 địa danh.
Vào cuối thế kỷ XIX, Nhật Bản là một quốc gia tiên phong cho công việc này, với đại diện tiêu biểu là Kindaichi Kyô, Kanazawa, v. Ở phương Tây, bộ môn địa danh học được bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, nhưng trên thực tế nó đã xuất hiện từ trước đó. Trong Thánh Kinh của Thiên chúa giáo cũng thu thập rất nhiều địa danh khác nhau. Vào thế kỷ XII trước Công nguyên, cuốn sách của Johhua ở Israel đã thu thập được hàng trăm địa danh.
Trong các cuốn II - VII của Ptolemy đã có tới 8100 địa danh. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là thời điểm nở rộ các công trình nghiên cứu về địa danh có tính lý luận cao. Gibson có cuốn "Địa lý học từ nguyên" hướng đến một danh sách phân loại về các từ ngữ thường gặp, như tiền tố hoặc hậu tố, trong các phức thể của tên địa lý. Năm 1864 có cuốn "Từ và các địa điểm hay sự minh hoạ có tính nguyên lai về lịch sử, dân tộc học và địa lý học" của Issac Taylor.
Năm 1872 có "Địa danh học" của J. Năm 1903 có "Địa danh học" của J. Bên cạnh những nghiên cứu cá nhân, nhiều tổ chức nghiên cứu ở các nước cũng được thành lập: năm 1890, thành lập Ủy ban Địa 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com danh nước Mỹ (BGN), đến 1902 thành lập Ủy ban Địa danh Thụy Điển; năm 1919 lập Ủy ban Địa danh nước Anh (PCGN) v. Từ đầu thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu càng đi sâu vào việc nghiên cứu địa danh theo hướng tổng hợp, bám sát lý thuyết địa danh.
Stewart có công trình “Các tên gọi, một khảo sát về việc đặt tên địa điểm” (1958); công trình “Thực hành địa danh học” của P. Về lĩnh vực này, chúng ta không thể nhắc đến hàng loạt các nhà địa danh học người Nga - những người đã đặt nền tảng đầu tiên trong việc xây dựng hệ thống lý luận. Đó là “Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh học” của E. Murzaev, “Bàn về địa danh học đồng đại” của Iu.
Kapenko (1964), “Những nguyên tắc cơ bản của công tác nghiên cứu địa danh” của A. Popov, “Địa danh mang những thông tin gì” của N. Podonskaja, “Các khuynh hướng nghiên cứu địa danh” của N. và đặc biệt là công trình “Địa danh học là gì” của A.
Superanskaja [68] đã mang lại những định hướng mới cho việc nghiên cứu địa danh, tạo ra những giá trị nhất định trong quá trình phát triển của địa danh học. Càng về sau này, việc nghiên cứu địa danh không chỉ nằm bó hẹp trong các chuyên luận nghiên cứu mà được ứng dụng trong thực tế với những người làm chính sách ngôn ngữ, những người làm công tác bản đồ, những nhà nghiên cứu về văn hóa - lịch sử tộc người, v. Hướng mở rộng này, khiến cho ta thấy được tầm quan trọng của công tác nghiên cứu địa danh và tính sâu rộng của nó trong đời sống. Lịch sử nghiên cứu địa danh trong nƣớc Việc nghiên cứu địa danh ở Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước phương Tây.
Ban đầu, đó là những sản phẩm mang tính liệt kê và giả thích tên gọi một cách thuần tuý, chưa quan tâm đến những vấn đề bản chất của địa danh học. Hầu hết, chúng đều là các sách sử và địa chí, chẳng hạn như: “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi (1380 - 1442), “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sĩ Liên (thế kỷ XV), “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú (1782 - 1840), “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825), “Đại Nam nhất thống chí” do Quốc Sử quán triều Nguyễn thời Tự Đức biên soạn (1864 - 1875). 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bước sang thế kỷ XX, khi mà việc nghiên cứu địa danh trên thế giới đang phát triển thì ở Việt Nam chỉ mới bắt đầu hình thành những nghiên cứu lý luận chuyên sâu. Điều thuận lợi là những nhà địa danh học ở Việt Nam đã kế thừa được những kết quả, phương pháp và lý thuyết nghiên cứu của thế giới, tạo đà cho công cuộc nghiên cứu địa danh trong nước.
Những người dẫn đầu trong công cuộc này là một số tác giả như: Đào Duy Anh, Hoàng Thị Châu, Phạm Đức Dương, Lê Trung Hoa, Trần Trí Dõi. tiếp đến là: Nguyễn Kiên Trường, Từ Thu Mai, Trần Văn Dũng. Công trình của các tác giả này có ảnh hướng lớn đến việc nghiên cứu địa danh trong nước, có tính lý luận cao, vận dụng được phương pháp so sánh lịch sử trong nghiên cứu địa danh. Nhờ đó mà một số vấn đề về địa danh đã được làm sáng tỏ và được nhiều ngành sử dụng.
Đề cập đến các công trình nghiên cứu trong nước nói trên, trước hết có thể kể đến bài báo nghiên cứu của Hoàng Thị Châu viết năm 1964 “Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông”. Trong công trình này Hoàng Thị Châu đã sử dụng phương pháp ngôn ngữ học để khảo sát đối tượng. Đây là một bước tiến mới. Sau đó là hai luận án phó tiến sĩ “Những đặc điểm chính của địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh” (1990) của Lê Trung Hoa “Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng (sơ bộ so sánh với một số vùng khác)” của Nguyễn Kiên Trường.
Hai luận án này đều nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ học, lấy đối tượng khảo sát khá điển hình: một là địa bàn miền Nam, một là địa bàn miền Bắc. Đó là những chuyên khảo đầu tiên về địa danh Việt Nam trên một địa bàn cụ thể. Những năm gần đây đã có hai luận án tiến sĩ về địa danh đã được bảo vệ là “Nghiên cứu địa danh Quảng Trị” của Từ Thu Mai năm 2003 và “Những đặc điểm chính của địa danh Dăk Lăk” của Trần Văn Dũng năm 2005. Bên cạnh đó, một số sách tra cứu đã được xuất bản như cuốn “Sổ tay địa danh Việt Nam” của Đinh Xuân Vịnh (1995), “Sổ tay địa danh Việt Nam” của Nguyễn Dược - Trung Hải (1998), “Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng” do Ngô Đăng Lợi chủ biên (1998), “Từ điển Hà Nội địa danh” của Bùi Thiết (1993), hoặc một số cuốn địa chí vùng như “Địa chí Nam Định” (2004), “Địa chí Cổ Loa” (2007).
Những công trình này thiên về sưu tầm tư liệu mà thiếu tính lý luận, do đó chưa phải là những công trình nghiên cứu địa danh thực sự. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. HƢỚNG TIẾP CẬN VÀ PHÁT TRIỂN KHI NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH NỘI THÀNH HÀ NỘI Những công trình đầu tiên đề cập đến vấn đề địa danh nội thành Hà Nội xuất hiện từ thế kỷ thứ XIX. Đó là những công trình thiên về lịch sử, liệt kê các đơn vị hành chính, mô tả phong vật, sông núi, thành trì, nhân vật, sản vật.
của vùng đất Hà Nội xưa1. Trước hết, ta phải kể đến “Các trấn, tổng, xã danh bị lãm” (1810). Vì công trình này thu thập tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX thuộc các tỉnh từ Nghệ An trở ra (10.994 địa danh) nên có liệt kê địa danh làng, xã Hà Nội. Tiếp đến là “Bắc thành địa dư chí lục” (1818 - 1821) do Lê Chất soạn, có ghi chép 12 trấn thuộc Bắc Thành, nay là 12 tỉnh miền Bắc.
Năm 1866, “Hà Nội địa bạ” cung cấp cho ta một lớp địa danh đến tận xã, phường, thôn, trại của tỉnh Hà Nội thời Tự Đức. Năm 1882 là “Đại Việt địa dư toàn biên” hay “Phương Đình dư địa chí” do Nguyễn Văn Siêu và Bùi Hữu Trúc soạn, và năm 1888 là “Đồng Khánh địa dư chí” cũng có phương cách tương tự. Bên cạnh đó, cũng có những sách ghi chép về núi sông, thành trì. thuộc Hà Nội khá tỉ mỉ như: “Hà Nội, sơn xuyên phong vực”, “Hà Nội địa dư”.
Các công trình này không có giá trị nhiều về lý luận nghiên cứu mà chỉ được xem như là những nguồn tư liệu cho việc khảo sát địa danh nội thành Hà Nội. Thời Pháp thuộc, thực dân Pháp thực hiện việc nghiên cứu địa danh nội thành Hà Nội mang tính ghi chép để phục vụ cho cuộc xâm lược của chúng đối với nhân dân ta. Điều này được thể hiện rõ trong tài liệu lưu trữ 1873 - 1954 của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, về địa giới hành chính, về giao thông đô thị. do người Pháp ghi chép.
Ở thời kỳ này nhiều tên gọi địa danh được đặt thêm, mang màu sắc của địa danh phương Tây. Ngoài ra, các kho thần tích, thần sắc cũng có những đóng góp đáng kể.