CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm, định nghĩa liên quan đến kế toán doanh thu- chi phí – kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Một số khái niệm, định nghĩa liên quan đến kế toán doanh thu Doanh thu là một trong những chỉ tiêu quan trọng đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, chỉ tiêu doanh thu cung cấp cho đối tượng sử dụng thông tin bên trong và bên ngoài những căn cứ đánh giá một cách khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định để đưa ra các quyết định kinh tế đúng đắn. Hiện nay có nhiều quan điểm và định nghĩa về doanh thu: Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS18 – Doanh thu thì “ Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của DN, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không bao gồm khoản góp vốn của các chủ sở hữu vốn”[4, Tr 144] Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 14 – Doanh thu và thu nhập khác thì “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của DN, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu” [1, Tr 46] “Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được.
Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu. Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu”[1, Tr 46] Như vậy doanh thu đóng vai trò quan trọng, là nguồn bù đắp các khoản chi phí mà DN đã chi ra đồng thời làm tăng vốn chủ sở hữu. Việc hạch toán đúng doanh thu sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp xác định đúng đắn KQKD. Thu nhập khác: Là khoản thu góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu từ hoạt động ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu, như : thu từ thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng,.
Để thuận tiện cho công tác quản lý và kế toán doanh thu, doanh thu từ hoạt động kinh doanh có thể được phân loại theo những tiêu thức khác nhau tuỳ theo mục đích, yêu cầu của quản lý và kế toán. Một vài cách phân loại: 11 (1) Phân loại theo hoạt động kinh doanh, DT được chia thành hai loại: - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là toàn bộ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong kỳ bao gồm: DT bán buôn, DT bán lẻ, DT gửi bán đại lý - DT hoạt động tài chính: Là toàn bộ DT phát sinh từ hoạt động đầu tư tài chính như tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia Cách phân loại này giúp nhà quản trị doanh nghiệp xác định được tỷ trọng của từng loại doanh thu, xác định tổng mức lưu chuyển hàng hoá theo từng loại, từ đó hoạch định được mức luân chuyển hàng hoá, xây dựng mức dự trữ hàng hoá cần thiết, tránh được tình trạng ứ đọng hoặc thiếu hàng gây ảnh hưởng không tốt cho quá trình hoạt động KD của DN. (2) Phân theo phương thức thanh toán tiền hàng DT được chia thành DT thu tiền ngay, doanh thu trả chậm, doanh thu nhận trước (3) Phân loại theo mối quan hệ với điểm hoà vốn, DT được chia thành - DT hoà vốn: DT của khối lượng bán ở điểm hoà vốn - DT an toàn: Phần chênh lệch của DT thực hiện được với DT hoà vốn (4) Phân loại theo mối quan hệ với khu vực địa lý có DT trong nước và DT ngoài nước (5) Phân loại theo mối quan hệ với hệ thống tổ chức kinh doanh của DN, DT được chia thành - DT từ bên ngoài: toàn bộ DT của khối lượng hàng hoá, dịch vụ bán ra thực tế của DN cho khách hàng, hay DT từ các hoạt động đầu tư tài chính thu được từ bên ngoài hệ thống tổ chức kinh doanh của DN - DT nội bộ: DT của khối lượng hàng bán trong nội bộ hay DT từ các hoạt động tài chính thu được từ hệ thống tổ chức kinh doanh của DN như các giao dịch giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty, tổng công ty,. Ngoài các cách phân loại trên DT còn được phân loại theo nhiều tiêu thức khác.
Nhìn chung mỗi cách phân loại đều có ý nghĩa nhất định với nhà quản trị DN. Do đó tuỳ thuộc yêu cầu của nhà quản trị DN mà kế toán thực hiện tổ chức thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về doanh thu theo những cách thức nhất định. 12 Một số khái niệm khác có liên quan đến doanh thu theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 14 – Doanh thu và thu nhập khác: - Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. - Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.
- Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. - Chiết khấu thanh toán: Là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng. Một số khái niệm, định nghĩa liên quan đến kế toán chi phí Theo chuẩn mực kế toán quốc tế và theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 01- Chuẩn mực chung “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu” [4, tr.64] Qua khái niệm trên ta thấy chi phí có đặc trưng là sự giảm đi của các lợi ích kinh tế thu được trong kỳ kế toán dưới các hình thức khác nhau. Sự giảm lợi ích này thực chất là làm giảm tạm thời nguồn vốn chủ sở hữu với mong muốn sẽ thu được các lợi ích kinh tế lớn hơn trong tương lai.
Chi phí cũng được xem xét theo từng kỳ kế toán và là các khoản mục trong báo cáo tài chính. Theo cách đó thì chi phí được ghi nhận, phản ánh theo những nguyên tắc nhất định. Định nghĩa chi phí như vậy phù hợp khi đứng trên góc độ của đối tượng sử dụng thông tin kế toán tài chính, chủ yếu là đối tượng bên ngoài doanh nghiệp. Chi phí bao gồm các chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các chi phí khác.
* Chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, như: giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi tiền vay, và những chi phí liên quan đến hoạt động cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền,. Những chi phí này phát sinh 13 dưới dạng tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc, thiết bị. * Chi phí khác bao gồm các chi phí ngoài các chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, như: chi phí về thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, các khoản tiền bị khách hàng phạt do vi phạm hợp đồng,. Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn trong doanh nghiệp và được phân loại theo nhiều cách khác nhau theo các tiêu thức khác nhau, tuy nhiên kế toán tài chính thường sử dụng tiêu thức chức năng hoạt động kinh doanh.
Theo đó, chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất. (1) Chi phí sản xuất: Là những chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm và cung ứng dịch vụ bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là giá trị nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp trong quá trình sản xuất sản phẩm. Ngoài chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp còn bao gồm chi phí nguyên vật liệu phụ (kể cả nhiên liệu) dùng trực tiếp trong sản xuất sản phẩm.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Là các khoản tiền lương, tiền công và các khoản trích theo lương (kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội) của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm cung cấp dịch vụ. - Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung bao gồm tất cả các chi phí sản xuất không thuộc hai khoản mục trên, bao gồm: + Chi phí lao động gián tiếp, phục vụ quản lý sản xuất; + Chi phí nguyên, nhiên liệu dùng cho máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, cung cấp dịch vụ; + Chi phí công cụ dụng cụ dùng trong sản xuất; + Chi phí khấu hao máy móc thiết bị, tài sản cố định khác dùng trong hoạt động sản xuất; + Chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ sản xuất như điện, nước, sửa chữa, bảo hiểm tài sản tại bộ phận sản xuất, cung cấp dịch vụ. 14 + Chi phí bằng tiền khác (2) Chi phí ngoài sản xuất Chi phí ngoài sản xuất là các khoản chi phí phát sinh ngoài phạm vi quá trình sản xuất như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí tài chính - Chi phí bán hàng là những hao phí cần thiết nhằm thực hiện quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá. Chi phí bán hàng gồm: Chi phí ề lương và các khoản trích theo lương, chi phí vận chuyển hàng hoá tiêu thụ, chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu dùng trong việc bán hàng, vận chuyển hàng hoá tiêu thụ, quảng cáo, hội chợ, bảo trì, bảo hành, khuyến mại ở bộ phận bán hàng.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp là những hao phí cần thiết để tổ chức, điều hành, thực hiện quá trình quản lý hành chính, quản lý kinh doanh và các hoạt động chung khác.